Hổ tướng Trương Phi – nhà thư họa đời Tam Quốc

 
Đăng bởi: 11 November 2008
views  8,545 lượt xem
CHIA SẺ:

Qua sự lưu truyền của tác phẩm văn học nổi tiếng “Tam Quốc Diễn Nghĩa” 三國演義 cũng như các thoại bản thời Tống, Nguyên, Trương Phi – một mãnh tướng của nhà Thục Hán đời Tam Quốc, được miêu tả là một người “thân cao 8 thước, đầu báo mắt tròn, hàm én, râu hổ, tiếng nói như sấm, dáng như ngựa phi…” và hình ảnh Trương Phi trong lòng mọi người đã được định hình như một kẻ vũ phu lỗ mãng, bộc trực, nóng nảy và ít chữ nghĩa. Trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa” đã có nhiều đoạn miêu tả về sự lỗ mãng của Trương Phi, thậm chí người Trung Quốc có thành ngữ “Mãng Trương Phi” (lỗ mãng như Trương Phi) hay người Việt Nam có câu “Nóng tính như Trương Phi” …. Nhưng kỳ thực, những miêu tả trong tiểu thuyết hoàn toàn không giống như thực tế, ngược lại với những gì mọi người từng nghĩ, Trương Phi là một người văn võ kiêm toàn, không những vậy còn là một nhà thư họa được đánh giá cao, đặc biệt giỏi vẽ mỹ nhân! (Ngay cả những miêu tả về hình dáng bên ngoài của Trương Phi trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa” cũng không chính xác nhưng vấn đề này sẽ xin nói đến trong một dịp khác.)

Bia lâm khắc Lập Mã Minh của T.Phi để ở miếu Hoàn Hầu

Bia lâm khắc Lập Mã Minh của T.Phi để ở miếu Hoàn Hầu

Qua rất nhiều tư liệu khác nhau đã cho thấy, Trương Phi rất đa tài về bút mực, giỏi vẽ tranh, đặc biệt thích vẽ mỹ nhân, và viết chữ thảo rất đẹp. Trác Nhĩ Xương đời Minh trong cuốn “Họa Tủy Nguyên Thuyên” 畫髓元詮 chép: “Trương Phi thích vẽ mỹ nhân, giỏi thảo thư”. Cuốn “Lịch Đại Họa Trưng Lục” 歷代畫徵錄 đời Thanh cũng chép: “Trương Phi người Trác Châu, giỏi vẽ mỹ nhân”.

Các ghi chép về thư pháp của Trương Phi sớm nhất có thể thấy trong “Đao Kiếm Lục” 刀劍錄 của Đào Hoằng Ảnh sống đời Lương thời kỳ Nam Bắc Triều. Trong sách chép: “Trương Phi khi mới được phong tước Tân Đình hầu, liền tự lệnh cho thợ rèn luyện sắt ở Xích Sơn, đúc một cây đao. Khắc chữ trên đó: “Tân Đình hầu, Thục đại tướng dã” 新亭侯,蜀大將也 (Tân Đình hầu, đại tướng nước Thục). Sau bị Phạm Cương giết, đem cây đao này đến nước Ngô”. Người ta cho rằng “Tân Đình hầu đao minh” này là chữ của Trương Phi tự viết. Nhưng đáng tiếc là hiện nay nguyên vật đã thất truyền từ lâu.

Đến đời Minh, trong bộ sách “Đan Diên Tổng Lục” 丹鉛總錄 lại có một đoạn ghi chép: “Ở Phầu Lăng (thuộc Tứ Xuyên) có bài Điêu Đấu Minh 刁鬥銘 của Trương Phi, chữ khắc rất tinh diệu, là chữ chính tay Phi viết. Trương Sĩ Hoàn có bài thơ rằng:

Thiên hạ anh hùng chỉ Dự châu;
A Man bất cộng đới thiên cừu.
Sơn hà cát cứ phân tam quốc;
Vũ miếu uy danh trượng bát mâu.
Giang thượng từ đường nghiêm kiếm bội;
Nhân gian Điêu Đấu kiến ngân câu.
Không dư Gia Cát Tần Xuyên biểu;
Tả đản hà nhân phục vị Lưu!”

天下英雄只豫州,
阿瞞不共戴天仇。
山河割據三分國,
宇廟威名丈八矛。
江上祠堂嚴劍佩,
人間刁鬥見銀鉤。
空余諸葛秦川表,
左袒何人復為劉!

(Anh hùng trong thiên hạ, chỉ có Trương Phi ở Dự Châu, Thù không đội trời chung cùng A Man (Tào Tháo). Núi sông cát cứ chia làm ba nước; Uy danh còn trên đền miếu, vẫn chống ngọn bát sà mâu. Trong đền thờ trên sông vẫn đeo kiếm nghiêm trang; Bài “Điêu đấu” ở nhân gian vẫn lưu truyền nét bút. Nào đâu chỉ có bài biểu Tần Xuyên của Gia Cát Lượng, Vén vai áo bên trái ai là người vì họ Lưu nữa!)

Cũng khoảng đời Minh, ở huyện Lưu Giang tỉnh Tứ Xuyên lại phát hiện thạch khắc trên vách núi, đó là “Trương Phi lập mã minh” 張飛立馬銘 còn gọi là “Bát Mông ma nhai” 八蒙摩崖. Trần Kế Nho đời Minh trong sách “Thái Bình Thanh Thoại” 太平清話, Tào Học Thuyên đời Minh trong sách “Thục Trung Danh Thắng Ký” 蜀中名勝記, Triệu Nhất Thanh đời Thanh trong sách “Cảo Bản Tam Quốc Chí Chú Bổ” 稿本三國志注補 dẫn sách “Phương Dư Kỷ Yếu” 方輿紀要 bổ chú cho truyện về Trương Phi đều có những ghi chép về chuyện này. “Tam Quốc Chí” 三國志 chép: mùa thu năm Kiến An thứ 23 (218) Lưu Bị và Tào Tháo tranh nhau đất Hán Trung, Tào Tháo mệnh cho tướng Trương Cáp dẫn ba vạn quân tiến vào Ba châu (Tứ Xuyên). Lưu Bị lệnh cho Trương Phi dẫn một vạn quân nghênh chiến ở Mông Đầu (tức núi Bát Mông, tại huyện Cừ, Tứ Xuyên ngày nay) Trương Phi lấy số ít chống lại số đông, đánh bại quân Trương Cáp. Lúc ấy Trương Phi vô cùng cao hứng, đã lấy đá thay giấy, lấy mâu thay bút, khắc lên vách đá núi Bát Mông hai hàng đại tự lệ thư gọi là “Lập Mã Minh” 立馬銘 để ghi công quân sỹ và làm cho quân Tào phải xấu hổ. Ma nhai thạch khắc đời Hán này, đáng tiếc là do niên đại quá xa, vách núi đã vỡ lở, văn khắc đã mất.

Cuối đời Thanh, có Hồ Thăng Du – một nhà vọng tộc ở huyện Quán – Tứ Xuyên, trong nhà sưu tập rất nhiều văn vật, lại rất giỏi giám định cổ vật. Hồ Thăng Du đã theo thác bản “Lập Mã Minh” trong nhà lưu giữ, cho khắc lại trên vách núi Bát Mông. Nhưng tiếc là ngay ma nhai khắc lại đời Thanh ở núi Bát Mông này đến nay cũng đã không còn.

Song, ở huyện Kỳ Sơn – Thiểm Tây hiện còn một bản khắc đá như vậy, cũng do Hồ Thăng Du căn cứ theo thác bản của gia đình cho khắc lại trên bia khi nhậm chức tri huyện Kỳ Sơn ở Thiểm Tây năm Quang Tự thứ 7 (1881) Bia khắc chất liệu đá xanh, rộng 167cm, cao 38 cm. Chính văn chữ lệ: “Hán tướng quân Phi, suất tinh tốt vạn nhân, đại phá tặc thủ Trương Cáp ư Bát Mông, lập mã lặc minh” 漢將軍飛, 率精卒萬人, 大破賊首張合于八蒙, 立馬勒銘。 (Tướng nhà Thục hán là Trương Phi, dẫn tinh binh một vạn người, đại phá tướng giặc Trương Cáp ở núi Bát Mông, dừng ngựa khắc chữ). Sau phần chữ lệ, có lời bạt nhỏ chữ Nhan thể (thể chữ khải của Nhan Chân Khanh – thư pháp gia đời Đường), của Hồ Thăng Du đề thức: “Hoàn hầu lập mã lặc minh. Tương truyền dĩ mâu thích thạch, tác tự tại Tứ Xuyên Cừ huyện thạch bích. Kim bích liệt, tự hủy. Quang Tự thất niên lục nguyệt, liễm gia tàng thác bản trùng câu thượng thạch. Hầu chi tinh linh như tại mục tiền, phi đồ ái kỳ thư pháp chi công dã!” 桓侯立馬勒銘. 相傳以矛刺石,作字在四川渠縣石壁。今壁裂字毀。光緒七年六月,撿家藏拓本重鉤上石。侯之精靈如在目前,非徒愛其書法之工也. (Hoàn hầu (tức Trương Phi) dừng ngựa khắc chữ,tương truyền là dùng mũi mâu mà khắc vào đá, viết chữ ở vách núi thuộc huyện Cừ tỉnh Tứ Xuyên. Nay vách đá đã vỡ lở, chữ bị hủy mất. Tháng 6 năm Quang Tự thứ 7, tôi nhặt nhạnh thác bản giữ trong nhà cho khắc lại lên vách đá. Thấy như linh hồn Hoàn hầu hiện ra ngay trước mắt, đâu chỉ là yêu công phu thư pháp của ngài đâu!)

Xét kỹ chính văn bia khắc, nét bút đầy đặn cứng khỏe, khí thế cương kiện ngưng chắc, kết thể hồn hậu giản phác. Nét hoành, “tàm đầu” ẩn tàng, “yến vĩ’ rõ ràng, rất có đặc trưng của thời đại, lại có phong cách cá nhân, uyển chuyển viên nhuận rất có vận vị. Trung phong, tàng phong như lấy dùi vạch lên cát, vô cùng tinh diệu. Bố cục chỉnh thể không thấy lẫn một chút lai tạp nào, vô cùng nghiêm cẩn. Lại do khắc lại từ bản rập cũ, nét bút liền nối, nên cũng không mất phong cách cổ kính, rất đáng được thưởng thức. Phần bạt cuối bài minh là chữ của Hồ Thăng Du viết lối Nhan thể, cũng rất đẹp. Bia khắc này, cũng như thác bản hiện còn ở Kỳ Sơn – Thiểm Tây.

Trong miếu Hoàn hầu ở Lãng Trung, còn có đôi câu đối rất thú vị hai bên tượng Trương Phi như sau: “Viên tạ hồng đào, đại ca Huyền Đức nhị ca Vũ; Quốc lưu thanh sử, tam phân đỉnh thế bát phân thư”. Đôi câu đối này do nhà thơ Lưu Sa Hà, viết sau khi thăm miếu Trương Phi, vế đối thứ 2 đã đánh giá rõ Trương Phi là một anh hùng văn võ kiêm toàn, đặc biệt là về mặt thư pháp. Trong vế này, chữ “bát phân thư” chính là một thể chữ lệ có ở thời Hán, và trở thành một thư thể trong lịch sử thư pháp – chữ bát phân. Loại chữ lệ này tự hình thường được chia làm hai phần hướng lưng vào nhau như chữ bát nên gọi là “bát phân thư”.

Ngô Trấn đời Nguyên có bài thơ “Trương Dực Đức Từ” 張翼德祠 như sau: “Quan hầu phúng Tả thị; Xa kỵ cánh công thư. Văn võ thú tuy biệt; Cổ nhân thường hữu dư. Hoành mâu tư uyển lực; Diêu Tượng khủng nan như.” 關侯諷左氏, 車騎更工書. 文武趣雖別, 古人嘗有余。橫矛思腕力,繇像恐難如 (Quan hầu châm biến cả Tả thị, Xa kỵ càng giỏi viết chữ. Văn võ là hai cái thú khác nhau, nhưng người xưa thường kiêm gồm thừa cả hai cái ấy. Cầm ngang ngọn mâu nghĩ phục sức cánh tay của Trương Phi, Những nhà thư pháp như Chung Diêu, Hoàng Tượng e rằng cũng không được như vậy.” Xa kỵ tức xa kỵ tướng quân, là chức của Trương Phi được phong năm Chương Võ nguyên niên (221). Ở đây Ngô Trấn đã ca ngợi thư pháp của Trương Phi, mà hai nhà thư pháp nổi tiếng trong lịch sử thư pháp Trung Quốc là Chung Diêu – thời Ngụy (Tam Quốc) và Hoàng Tượng – thời Ngô (Tam Quốc) cũng có thể kho sánh được.

Truyền rằng Trương Phi còn rất giỏi thơ phú, sau khi đánh bại Trương Cáp, ông dẫn quân tạm ứngần du núi Chân Đa và đã viết lại bài “Chân Đa sơn du ký” 真多山遊記. Nhưng đáng tiếc là tranh mỹ nữ mà Trương Phi vẽ, từ rất lâu đã bị thất truyền, nếu không chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng tài nghệ hội họa của Trương Phi và biết được dưới bàn tay dũng tướng, hình ảnh mỹ nữ sẽ như thế nào.

Châu Hải Đường – Lê Tiến Đạt
(Theo tài liệu Trung Quốc)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 5.5/10 (2 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +1 (from 1 vote)
Hổ tướng Trương Phi – nhà thư họa đời Tam Quốc, 5.5 out of 10 based on 2 ratings
NGƯỜI ĐĂNG
Admin: Nếu quý vị muốn đăng tải, chia sẻ bài viết, tài liệu, hình ảnh xin vui lòng gửi về bbt@thuhoavietnam.com hoặc viết bài trên Diễn đàn
 
Viết phản hồi