Thư pháp – một nghệ thuật

 
Đăng bởi: 4 November 2006
views  2,521 lượt xem
CHIA SẺ:

Người xưa còn xem mỗi chữ Hán như một “bức vẽ” nhỏ (xuất phát từ đồ họa), nên đã nâng cao thành một thứ nghệ thuật rất đặc biệt, gọi là Thư pháp, viết thế nào để nét bút thể hiện được những rung cảm thưởng ngoạn, mang đầy đủ cái đẹp khách quan (văn bản) và chủ quan (tác giả). Chẳng những là nghệ thuật, Thư pháp còn là Đạo, như người xưa đã nói: Học tập Thư pháp khả dĩ tu thân, dưỡng tính, đào dã tâm tình” (Rèn luyện Thư pháp có thể sửa mình, nuôi tính và uốn nắn tình cảm). Theo từng thời kì lịch sử, Thư pháp dựa trên từng tự thể khác nhau, nhưng quan trọng nhất vẫn là lệ thư, tiểu triện, khả thư và hành thư, trong đó thể thảo thư xuất phát từ chân thư và hành thư chiếm địa vị rất cao.

Sơ đồ diễn tiến chung của chữ Hán và Thư pháp

Sơ đồ diễn tiến chung của chữ Hán và Thư pháp

Người Trung Quốc cho rằng Lí Tư, thừa tướng đời Tần Thủy hoàng đế là ông tổ của Thư pháp. Nhà Tần sau khi thống nhất lãnh thổ, phải tiến hành thống nhất văn hóa, trong đó chữ viết chiếm phần quan trọng, xa đồng quỹ, thư đồng văn”. Việc cải cách và thống nhất văn tự do Lí Tư (? – 208 TCN) thực hiện. Ông quê ở Thượng Thái nước Sở, học trò của Tuân Khanh và là bạn của Hàn Phi Tử, hiệu Thượng Thái Bố Y. Thấy ở Sở không làm được gì, ông bỏ sang Tần, vào làm môn khách của thừa tướng Lã Bất Vi. Nhờ Bất Vi tiến cử, Tần Doanh Chính cho làm khách quan (quan có quê gốc nước khác). Sau khi Bất Vi bị trục xuất, ông được trọng dụng, leo dần đến chức thừa tướng. Tần Vương gồm thâu lục quốc, tự xưng Thủy hoàng đế, đặt định chế độ. Nhưng sau khi Thủy Hoàng chết, ông bị Triệu Cao vu cáo, vua Nhị Thế sai bắt ông bỏ ngục rồi giết một cách tàn bạo.

Ông xui vua “đốt sách chôn nho” ( phần thư khanh nho), năm 213 TCN, sửa chữa văn tự, tạo ra lối chữ “tiểu triện” nổi tiếng. Hứa Thận viết trong sách Thuyết văn giải tự: “Tần Thủy hoàng sơ kiểm thiên hạ, thừa tướng Lí Tư nãi tấu đồng chi, bãi kì bất dữ Tần văn hợp giả. Tư tác Thương Hiệt thiên. Trung xa phủ lệch Triệu Cao tác Viên Lịch Thiên, Thái sử lệnh Hồ Vô Kính tác Bác học thiên, giai thủ sử Lựu đại triện hoặc phả tỉnh cải, sở vị tiểu triện giả dã” (Tần Thủy Hoàng lúc mới gồm thâu thiên hạ, thừa tướng Lí Tư tâu xin thống nhất [văn tự], bỏ những gì không hợp với chữ Tần, riêng ông viết Thương Hiệt thiên, quan lệnh phủ Trung Xa Triệu Cao viết Ái lịch thiên, quan lệnh Thái Sử Hồ Vô Kính viết Bác học thiên, đều lấy chữ đại triện của sử Lựu thêm bớt chút ít, gọi là tiểu triện vậy).

Đời Hán, lệ thư phổ biến, rồi nhờ cái bút lông (mao bút, do tướng Mông Điềm đời Tần phát minh), giấy (do Thái Luân đời Hán chế tạo) và mực (do Hình Di đời Hán phát minh), chữ viết uyển chuyển, biến dạng thành ra lối thảo thư. Thảo thư nẫy sinh chương thảo với Sử Du, Trương Chi, Tương truyền chính Trương Chi cải cách chương thảo thành kim thảo, nhưng nổi tiếng về kim thảo lại là hai cha con Vương Hi Chi, Vương Hiến Chi ( Thảo thánh nhị Vương). Rồi tiến một bước nữa mà ra cuồng thảo (còn gọi là đại thảo hay túy thảo), “như thế đầy lãng mạn, nét bút liên miên tiêu sát, mực đẫm lâm li hào sảng, cơ hồ say sưa loạn cuồng, nhưng kì thực có khuôn phép quy củ hẳn hoi”; ta có Trương Húc và Thích Hoài Tố đời Đường được tôn là cuồng thảo nhị tuyệt”

Thư và họa đi song song. Triệu Mạnh Phủ đời Nguyên nổi tiếng về hội họa với những đề tài phong cảnh, nhân vật, cây cỏ; ông vẽ theo phương châm “họa quý hữu cổ ý” (tranh vẽ quý ở chỗ có ý nghĩa cổ điển). Đồng thời, ông cũng nổi tiếng về Thư pháp với các thể chính khải, tiểu khải, hành thư. Lại trong bài thơ Đan thanh dẫn tặng Tào tướng quân Bá (Bài dẫn về nghề vẽ tặng tướng quân Tào Bá), Đỗ Phủ viết:

Tướng quân Ngụy Vũ chi tử tôn,
Ư kim vi thứ vi thanh môn;
Anh hùng cát cứ tuy dĩ hỉ,
Văn thái phong lưu kim thượng tồn.
Học thư sơ học Vệ phu nhân,
Đản hận vô quá Vương Hữu quân.
Đan thanh bất tri lão tương chí,
Phú quý ư ngã như phù vân.

Tạm dịch:
Gốc tích tướng quân dòng Ngụy Vũ,
Nhà nghèo nay giữ phận tôi con;
Anh Hùng cát cứ tuy đã hết,
Phong thái phong lưu may vẫn còn.
Bắt đầu học viết Vệ phu nhân,
Hiềm nỗi chưa hơn Vương Hữu quân.
Mải vẽ mà quên già xộc tới,
Giàu sang xem tựa đám phù vân.

Tào Bá là hậu duệ của Tào Mao đời Ngụy, có tài vẽ ngựa nổi tiếng một thời. Cuối niên hiệu Thiên Bảo (742 – 756), vua Đường Huyền Tông triệu vào kinh vẽ ngự mã. Ông có tám bức tranh ngựa tuyệt đẹp, mỗi con mang một thần thái riêng, không ai mô phỏng được; trong cuộc loạn An Lộc Sơn, ông lưu lạc ở miền nam Trung Quốc, sống nghèo khổ, phải vẽ chân dung để sinh nhai. Nhà thơ Đỗ Thiếu Lăng nói Tào Bá học vẽ theo phép viết chữ của Vệ phu nhân, tức Vệ Thước đời Tấn, nhưng cũng không thể vượt được Vương Hữu quân, tức Vương Hi Chi (303 – 361). Đây là một nhà Thư pháp bậc nhất, người đất Cối Kê (Chiết Giang) đời Tấn, con ông Vương Đạo, tự Dật Thiếu, hiệu Lan Đình, làm quan đến chức Hữu quân tướng quân, sau vì liên can đến vụ Vương Luân mưu phản, ông bị hại. Con là Vương Hiến Chi, cũng nổi tiếng về chữ thảo.

Tương truyền Vương Hi Chi thường đến bên ao tập viết đến nỗi nước ao đen như mực, quản bút chất thành gò, chữ thảo chữ lệ quán cổ kim. Năm Vĩnh Hòa 9 (353) đời Tấn Mục Đế, ông cùng danh sĩ đương thời 41 người (trong đó có Tạ Ôn, Tôn Xước…) hội họp ở Lan Đình (huyện Sơn Âm, Cối Kê), làm lễ “Tu hễ” (gội rửa trừ tà) để cùng vui chơi. Nhân dịp này, ông làm bài tựa tập Lan Đình. Ông dùng giấy kén, bút lông chuột, chính tay viết 28 dòng, 324 chữ với một thể đặc biệt, đẹp vô song, người ta gọi là Lan Đình tự thiếp. Nhiều giai thoại xoay quanh tài năng đó của ông: một bà lão bán quạt ế ẩm, nghỉ dưới gốc cây, tình cờ ông ngồi bên cạnh, tẩn mẩn viết lên tất cả các quạt, sau bà gánh đi bán, người ta phát hiện ra chữ của ông, trong chốc lát họ tranh nhau mua hết sạch; một đạo sĩ muốn nhờ ông viết bộ kinh Hoàng đình, nghe có kẻ bảo ông rất thích thịt ngỗng, dù cử sát sinh, đạo sĩ cùng liều mua một con mang đến, ông nễ lòng viết giúp…

Trong lịch sử, trải qua các đời đều có những nhà Thư pháp nổi tiếng, như Vương Hiến Chi sở trường về hành và thảo; Ngu Thế Nam (558 – 638) rất giỏi về chữ khắc bia với tác phẩm Khổng Tử miếu đường bi; Âu Dương Tuần (557 – 641) là một trong bốn nhà khải thư nổi tiếng, ba người còn lại là Chử Toại Lương (596 – 658?), Nhan Chân Khanh (709 – 785) và Liễu Công Quyền (778 – 865); Triệu Mạnh Phủ (1254 – 1322) kiêm cả chính khải, tiểu khải và hành thư. Lối viết phóng túng được gọi là cuồng thảo với Trương Húc đời Đường, Hoàng Đình Kiên (1045 – 1105) đời Tống… Một số nhà thơ Đường – Tống cũng có thành tựu về Thư pháp, như Lí Ung (678 – 747), Lí Bạch (701 – 162), Dương Ngưng Thức (873 – 954), Sái Tương (1012 – 1067), Tô Thức (1037 – 1101)…

Để trở thành nhà Thư pháp, người ta phải mất công khổ luyện hàng chục năm, chứ không chỉ một sớm một chiều mà thành danh. Bởi thế, Nhật Bản mới gọi là Thư đạo, bên cạnh Võ đạo và Trà đạo. Những thiên Thư pháp lẫy lừng không khác gì bảo vật. Chẳng hạn, Thái Ung đời Hán viết thiên lí luận Bút pháp, đến đời Tấn, Vĩ Đản sưu tầm được, Chung Phủ cầu xin mãi không xong, uất ức sinh trọng bệnh hôn mê, vua Ngụy Thái Tổ ban cho Ngũ linh đan mới cứu tỉnh. Vĩ Đản mất, trối lại người nhà phải chôn thiên ấy như vật tùy táng. Chung Phủ lén quật mồ lấy cắp, theo đó khổ luyện ngày đêm…

Đến nay, Trung Quốc vẫn không thiếu những nhà Thư pháp cống hiến những tài năng mới, đặc biệt Viên Băng Nương thành thạo “ngũ pháp đồng thư”, viết với năm cây bút cùng một lúc (tay và miệng) qua quá trình khổ luyện mấy chục năm theo phương châm do người cha (Viên Khoát Lâm) truyền dạy: “Sức sống của Thư pháp là ở tính nghệ thuật của nó, chứ không phải chỉ là sự tán thưởng của số đông hiếu kì”. Một bức Thư pháp đẹp phải hội đủ nhiều yếu tố, trong đó, về hình thức có điểm hoạch (đường nét tròn trặn, chìm lắng, cứng cáp, già giặn…), kết thể (cân đối, thăng bằng, ngay thẳng, biến hóa, sinh động, thống nhất, nghiêm cẩn, chênh vênh), chương pháp mối quan hệ giữa các chữ, các dòng với nhau và với toàn bài), về nội dung có thần vận (cái hồn của tác phẩm tạo nên bởi phong độ, thần thái, khí vận, tinh thần… của tác phẩm và tác giả).

Ở nước ta xưa, vì cái học khoa cử để đỗ ông nghè, ông cống làm cụ tham cụ thượng, nên ít người rèn luyện Thư pháp, cho rằng đó là nghề “hoa văn” của bọn thư lại, đúng như Phạm Đình Hổ nói: “Nước ta có tiếng là văn hiến không khác gì nước Trung Hoa, thế mà về một việc viết chữ lại cho là việc của kẻ thơ lại, không ai thèm lưu ý học đến, không biết tại sao?”. Nhưng họ Phạm cũng khen ngợi Hoàng Hi Đỗ, một nhà Thư pháp cùng thời với mình: “Ông lúc nhỏ viết lối hành thảo rất tốt, bắt chước được lối chữ của Mễ Nam Cung, Đổng Kì Xương, hễ cầm bút lên thì rụt rè như thể không viết được, nhưng lúc đã đặt bút xuống giấy thì nét chữ tươi tắn, có cái ý nhị của hoa đào đọng giọt mưa bụi, là sương phủ làn khói nhẹ”. Nổi tiếng hơn hết là Cao Bá Quát với hai câu đối còn sót lại, chính là gợi ý cho Nguyễn Tuân viết truyện ngắn Chữ người tử tù trong Vang bóng một thời.

Bằng nghệ thuật Thư pháp, bài văn hay bài thơ ghi trên giấy, trên tranh trở thành một bức họa mang tinh thần của người viết cũng như thể hiện cái đẹp của nội dung, nó không còn là trang chữ chết cừng mà luôn luôn vận động, chứa hơi thở của cuộc sống. Những nét bút tài hoa, phóng khoáng có thể đưa tâm hồn người thưởng ngoạn cùng bay bổng tuyệt vời với tác giả, phát sinh những rung động nghệ thuật, những tình cảm, tư tưởng cao đẹp… Nhưng dù thế nào chăng nữa, nhà Thư pháp cũng phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản của bút thể và tự thể, không phóng túng đến độ bí hiểm, “một mình mình biết, một mình mình hay”!

Thương Thương

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
NGƯỜI ĐĂNG
Admin: Nếu quý vị muốn đăng tải, chia sẻ bài viết, tài liệu, hình ảnh xin vui lòng gửi về bbt@thuhoavietnam.com hoặc viết bài trên Diễn đàn
 
Viết phản hồi