Chuyện cũ trăm năm giở lại bàn

 
Đăng bởi: 10 May 2015
views  665 lượt xem
CHIA SẺ:

Tết đã qua từ lâu và xuân cũng đã muộn, nhưng có lẽ những câu chuyện thi cử, sát hạch “ông đồ” từ dịp đầu năm trong giới chữ nghĩa ở ngoài lề Văn Miếu dù có tạm lắng xuống đôi chút vì đã qua mùa nhưng dường như vẫn chưa thôi độ nóng khi ngày càng nhiều các thày đồ từ khắp nơi lại lục tục tìm đến các cơ sở đào tạo có uy tín về Thư pháp và Hán Nôm ở Hà Nội như Nhân Mỹ học đường, CLB Unesco Thư pháp Việt Nam để xin theo học hoặc sinh hoạt, và những câu chuyện cứ thế, cảm giác như vẫn chưa tạm kết.

Muôn đời vẫn thế, việc sĩ tử đi thi xưa nay dùi mài kinh sử, mong chờ ứng thí âu cũng là lẽ thường. Câu chuyện chỉ khác ở chỗ các “ông đồ” tự phong hiện tại ở cái xứ Bắc kỳ này mà độ mươi năm nay vẫn tự nhiên, tự do như đương nhiên được có cái quyền cho chữ thiên hạ bỗng nay được đưa vào danh sách cần phải kiểm tra và bị sát hạch, thẩm định trình độ mới được hoạt động mà thành ra nháo nhào, lo toan, đôn đáo cả lên. Vậy câu chuyện là thế nào và vấn đề chính nằm ở đâu! Tất cả, phải chăng vẫn không nằm ngoài hai chữ Quyền và Lợi của các bên đương sự trong rất nhiều câu chuyện! Việc tổ chức không dám lạm bàn, nhưng việc các ông đồ đi tìm nơi học hỏi cũng là chuyện dễ hiểu và đáng khích lệ khi họ tự tỉnh, dấn mình vào khuôn thước và tự tu dưỡng luyện rèn cho mình trở nên chuẩn mực hơn.

“Nghìn năm sót lại một người/Ngồi trên chiếu rách viết lời vàng son”

Ông đồ bán chữ trên vỉa hè. Hình ảnh Việt Nam năm 1915 (Marchand de sentences, Hanoi, 1915)

Ông đồ bán chữ trên vỉa hè. Hình ảnh Việt Nam năm 1915 (Marchand de sentences, Hanoi, 1915)

Tôi không nhớ câu thơ của ai viết về hình ảnh những ông cụ già những năm tháng còn khó khăn khi vừa thoát bao cấp vẫn thường ngồi lê la viết đại tự, câu đối những dịp giáp tết nơi góc đường men theo vỉa hè phố Bà Triệu xứ Hà Nội, hay như ở góc phố Cửa Đông xứ Nam Định từ những năm đầu hòa bình lập lại tôi thường được nghe kể và vẫn còn thấy khi lớn lên những năm 70, 80, nhưng tôi được biết câu thơ ấy nó đã gắn với hình ảnh của mấy cụ đồ già hết thời, mạt vận, và có vẻ những người như sinh lầm thế kỷ như cụ Lam Sơn Hồng Thanh, cụ Tú Sót, cụ Thế Anh .v.v. ở Hà Nội đã tái hiện lại những hình ảnh vàng son cũ kỹ từ đầu thế kỷ XX với hình hài xưa cũ trong lòng xã hội mới, nhưng chính các cụ hình như cũng đồng thời kéo tuột sự trang nghiêm cổ kính, hàn lâm uyên bác của chữ nghĩa thánh hiền nơi đình chùa miếu mạo, điện ngọc cung vàng của quá khứ đem bày la liệt như mớ rau, như hàng xáo nơi vỉa hè phố chợ, vừa bán rẻ để mưu sinh mà vừa cũng như cho lấy được để ngõ hầu người cầm, người nhận, người xin chữ có thêm chút hoài niệm về ký ức vàng son thủa nào đang dần phai nhạt trong buổi thời thực dụng. Nhưng cũng có lẽ ở Hà Nội và cả cái xứ Bắc kỳ này, chính từ đây, một thị trường chữ nghĩa văn tự bình dân được hình thành và xác lập dần nơi phố chợ, vỉa hè qua những năm sau đó.

Những hình ảnh ấy lặp đi lặp lại nhiều năm, và ở Hà Nội người ta dần quen với việc cứ tết đến xuân về có một vài ông già ra ngồi viết chữ như vậy. Nó gợi lại rất nhiều hoài niệm về quá khứ, về lịch sử, về truyền thống, nhất là khi ai đó bắt gặp những hình ảnh ấy trong một ngày xuân se lạnh, khái cảm mà ngâm đọc lại mấy câu thơ của Vũ Đình Liên. Hà Nội đẹp hơn, thanh lịch hơn, đáng yêu thêm nhưng thoáng đượm vẻ buồn.

Giới viết lách chữ nghĩa trong vài mươi năm trở lại đây hoặc cao cách, hoặc ẩn dật, hay tài hoa lãng tử như hòa thượng Thích Thanh Khoát, cụ Lê Văn Uông, nghệ sỹ Tào Mạt, họa sỹ Phan Chánh, lương y Nguyễn Văn Bách, nhạc sĩ Hoàng Vân, nhà giáo Lại Cao Nguyện, nhà nghiên cứu Hán Nôm Cung Khắc Lược .v.v. kể cũng lắm; kẻ trưng bày phô trương bằng những triển lãm nghệ thuật gắn với chữ nghĩa tranh pháo nghệ thuật Thư pháp bắt đầu đã có như họa sỹ Phan Cẩm Thượng, nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn quân, nhà thư pháp Lê Xuân Hòa, họa sỹ Lê Quốc Việt, và sau này là một số nhà thư pháp trẻ khác, nhưng với xã hội đang còn nhiều khó khăn để đi lên trong buổi nhập nhoạng của thời mở cửa và buổi kinh tế thị trường đang manh nha thì chữ nghĩa văn tự hàn lâm, thứ nghệ thuật salon ấy không mấy người có thể được tiếp cận cũng như có khả năng tiếp nhận, thì lúc ấy, chính dòng nghệ thuật đang thường ngày hàng năm hiện hữu tồn tại một cách bình dân kia lại rất gần gũi và định hướng được thẩm mỹ bình dân cho thị dân đất ngàn năm văn hiến.

“Ông đồ” bán chữ trên vỉa hè Văn Miếu (2012)

“Ông đồ” bán chữ trên vỉa hè Văn Miếu (2012)

Như có nhắc đến việc xin chữ những ông đồ già trong đời sống xã hội của thị dân ở trên, cho đến giờ cũng vẫn chỉ dừng lại ở góc độ như một thứ nghệ thuật bình dân giống như tranh dân gian người ta treo dịp tết hàng năm với mong muốn có con chữ mang một ý nghĩa nào đó cầu xin may mắn, bình an, hay phúc lộc thọ, hay nhẫn, tâm, trí, đức hòng hướng tới một giá trị thông thường nhất định. Còn việc nâng tầm chữ nghĩa lên hàng nghệ thuật salon, kinh diển, hay nghệ thuật hiện đại lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Tuy nhiên hiện nay, những khái niệm này đang bị mập mờ, cào bằng khi việc viết chữ, xin chữ đầu xuân đơn thuần mang ý nghĩa của năm mới được đánh đồng với nghệ thuật hàn lâm đích thực. Có thể, nghệ thuật suy cho cùng không có ranh giới một cách thực sự rõ ràng, nhưng khi được gắn mác và gọi là nghệ thuật, thì ngoài việc cảm nhận cá nhân ở những tầm đón đợi nhất định thì nó cần phải có những tiêu chí và đẳng cấp riêng dành cho những đối tượng riêng chứ không phải đổ đồng dành cho tất cả mọi người. Hình ảnh những ông đồ viết chữ gợi lên như bóng dáng vàng son một thời thì Thư pháp chính là thứ vàng son ấy trong quá khứ mà lâu nay đã lớp bụi thời gian phủ quá dày.

Với riêng câu chuyện viết chữ kiểu phục vụ bình dân ngoài vỉa hè một cách tạm bợ mang tính thời vụ, qua ngày, chỉ để phục vụ nhu cầu thông thường của đại đa số công chúng thị dân mỗi dịp tết trong giai đoạn hiện nay hay như trong bối cảnh Việt Nam những thập niên đầu của thế kỷ trước thì chung quy vẫn tương đồng, xét về góc nhìn văn hóa chỉ gợi lên được cho chúng ta khái cảm hoài cổ, một chút hoài niệm đáng yêu về một thời Hán học còn thịnh hành và phổ biến, về những giá trị văn hóa đang bị mai một mà vẫn còn có được những người đang ngồi xổm trên vỉa hè hay manh chiếu rách để viết lời vàng son, nhưng có lẽ cũng chỉ dừng ở đó vậy thôi; Và xét về bản chất, những ông đồ thất thế, hết thời, mạt vật xưa và “ông đồ tranh thủ” ngày nay (tự phong, ngộ nhận và được tung hê) khi đã phải la liếm ăn lộc văn tự nơi vỉa hè phố xá thì bản chất không ngoài công cuộc mưu sinh với mục đích kinh rõ ràng và chỉ tranh thủ được mỗi dịp xuân về con dân sính chữ, nhưng đồng thời lại tự cho mình cái quyền được nhân danh một nét văn hóa không hoàn toàn có thực và không hẳn là truyền thống. Còn những giá trị nghệ thuật mang tính chất hàn lâm, bác học hay loại hình nghệ thuật được định danh và gọi là Thư pháp (ở Trung Quốc và Việt Nam), hay Thư đạo (ở Nhật Bản), hay Thư nghệ (ở Hàn Quốc) đang bị một số các ông đồ mạo danh phải xét riêng trong từng trường hợp và con người cụ thể trong đám vàng thau lẫn lộn ấy.

“Mập mờ đánh lận con đen”

“Mỗi năm hoa đào nở/ Lại thấy ông đồ già/ Bày mực tàu, giấy đỏ/ Bên phố đông người qua.”
(1935 ? – Vũ Đình Liên)

Hẳn không ai trong lòng không dâng lên một chút khái cảm, một sự bâng khuâng như tiếc nuối khi đọc những câu thơ kia của nhà thơ họ Vũ viết ra nỗi niềm hoài niệm về hình ảnh những ông đồ vỉa hè đầu thế kỉ trước.

Đọc đến những câu thơ ấy, người ta người ta nghĩ ngay đến những nét văn hóa xưa đã từng tồn tại một thời trong quá khứ, để từ đó mà cố gắng giữ gìn hay muốn làm gì đó và tìm mọi cách để có thể hoằng dương thậm chí làm cho những hoạt động văn hóa ấy hồi sinh. Đó là tác dụng không cần phải bàn cãi khi nhắc đến bài thơ “Ông đồ”. Nhưng nhìn sâu hơn một chút, chính những người trong cuộc cũng như những người đang cổ súy cho văn hóa truyền thống hiện nay không những cứ vin vào hình ảnh trong bài thơ đó cộng thêm sự hiểu biết không đầy đủ về khái niệm văn hóa truyền thống và thiếu kiến thức lịch sử đúng đắn về mảng này đồng thời lại được một số báo chí, truyền thông rẻ tiền tiếp tay, tung hê, vô hình chung càng mơ hồ và hiểu không đúng về khái niệm Thư pháp và hình ảnh ông đồ xưa, cứ nhất mực cho rằng cứ phải như Phượng múa rồng bay mới là Thư pháp, và không những thế, lại đánh đồng cả khái niệm ông đồ với khái niệm nhà Thư pháp hay Thư pháp gia, coi những ai viết chữ đều gọi chung là ông đồ hoặc coi là nhà Thư pháp, coi việc viết lách chữ nghĩa là Thư pháp bất luận là viết chữ chữ tây hay chữ ta hay lân la chữ tàu, thậm chí coi những người viết chữ nơi vỉa hè ngoài kia tất thảy như hậu duệ của thánh hiền. Nhưng tai hại hơn, chuyện chưa dừng lại đó, chính bản thân những người đang viết chữ, cho chữ thiên hạ ngoài kia vì được tung hê hoặc ngộ nhận, hoặc tự phong, tự cho mình như những nhà Thư pháp trong khi không mấy người trong số ấy đã từng là một ông đồ thực sự, chưa xứng đáng với hai chữ “ông đồ” một cách đúng nghĩa, thậm chí còn làm biến tướng những giá trị thực của nghệ thuật Thư pháp trong đời sống nghệ thuật và văn hóa hiện tại.

Thoát ly danh xưng “ông đồ”, các nhà thư pháp trẻ trình diễn Thư pháp hành vi trên vỉa hè Văn Miếu ngay trước mặt các ông đồ - 2013

Thoát ly danh xưng “ông đồ”, các nhà thư pháp trẻ trình diễn Thư pháp hành vi trên vỉa hè Văn Miếu ngay trước mặt các ông đồ – 2013

Ông đồ, là một cách gọi dân gian cho những ông thầy hành nghề, lấy việc dạy học làm kế mưu sinh. Ông đồ có thể là tú tài, cống sinh đã thi đỗ mà không ra làm quan, cũng có thể chỉ là anh khóa hỏng thi không tiếp tục con đường khoa cử hoạn lộ mà lui về vui thú điền viên lấy việc dạy học làm vui, hoặc ông đồ cũng có thể là những bác quan già sa cơ lỡ vận hoặc hết hạn về quê, với danh tiếng của mình mà mở trường mở lớp dạy học. Ông đồ là cách gọi chung, còn gọi là thầy đồ khi trang trọng. Ở làng xã, họ là hương sư, ông đồ làng, giáo làng, ở đô thị họ là những giáo sinh, giáo thụ, gia sư hành nghề dạy học và đều thuộc thành phần trí thức. Họ làm công việc được cả xã hội trân trọng là tái đầu tư kiến thức văn hóa cho những thế hệ đi sau, gửi gắm những ước mơ còn dang dở cho người bước tiếp, nhưng đa phần, thực tế và đơn thuần chỉ dừng lại ở góc độ trao truyền học vấn thông qua sách vở, văn tự mà hầu như không dạy dỗ hay chia sẻ gì nhiều về nghệ thuật viết chữ hay nâng tầm cho việc viết lách, đặc biệt là cái mà chúng ta đang gọi là nghệ thuật Thư pháp. Đâu đó có thể có người viết chữ “khoảnh” lắm như cách nói của Nguyễn Tuân, nhưng cũng chỉ là con số có hạn và vô cùng ít ỏi khi thực tế bản thân họ xưa nay cũng như trong lịch sử và đến cả bây giờ đều không được đào tạo bài bản về chuyên môn hẹp này. Viết đẹp có chăng nhờ tự tu dưỡng hoặc có chút năng khiếu thiên bẩm. Việc biết đọc biết viết, viết đủ viết đúng và viết sạch sẽ rõ ràng đã là quý hóa lắm rồi.

Tuy nhiên có một điểm thú vị là chính hoạt động có tính chất xã hội hóa và hiện tượng viết chữ vỉa hè từ manh nha ít ỏi đó đã trở thành phong trào, nở rộ, mở rộng dần và xác lập thị trường chữ nghĩa bình dân, định vị nơi vỉa hè Văn Miếu. Nhưng cũng song song với quá trình đó, cùng thời điểm đó đến nay, các triển lãm Thư pháp được tổ chức nhiều hơn, tốt hơn, chính từ đó khái niệm ngày càng được biết đến và phong trào Thư pháp phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn, đồng thời đang trong quá trình chuyển dịch dần từ bán chuyên nghiệp đi lên theo hướng chuyên nghiệp.

Song cũng cần làm rõ thêm khái niệm nhà Thư pháp hay Thư pháp gia ở đây để tránh tình trạng ngộ nhận hoặc hiểu lầm đáng tiếc dẫn đến làm sai lệch về giá trị trong hoạt động xin cho chữ hay hoạt động Thư pháp chuyên nghiệp cũng như các giá trị văn hóa truyền thống đang diễn ra trong đời sống xã hội và hoạt động nghệ thuật hiện nay trong lĩnh vực này.

Triển lãm Vũ hội Chữ - 2008

Triển lãm Vũ hội Chữ – 2008

Nhà Thư pháp (chữ hán gọi là Thư pháp gia hay Thư gia) là cách gọi chung cho một chức nghiệp có tính danh xưng một cách nhẹ nhàng và phổ biến, nhưng cũng xác định được tương đối rõ ràng trình độ và xác lập thân phận, địa vị, thành tích trong hoạt động nghệ thuật giống như các chức nghiệp khác như nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, nhà nghệ thuật .v.v. Thực chất, khái niệm này ở Việt Nam ta hầu như không tồn tại, mà quãng hơn chục năm gần đây khi Thư pháp dần phổ biến, hoạt động Thư pháp dần phổ biến thì khái niệm này gần như được bê nguyên nghĩa và chuyển dụng sang Việt Nam. Theo định nghĩa và được hiểu ở mức phổ quát, Thư pháp gia hay Thư gia là người được học hành bài bản về nghệ thuật Thư pháp, có trình độ nghệ thuật nhất định, có thành tựu trong sáng tác nghệ thuật, có hình tích lưu truyền, có ảnh hưởng nhất định đến xã hội, và trong xã hội hiện đại, người được gọi là nhà Thư pháp phải qua đào tạo chuyên ngành một cách chuyên nghiệp, có bằng cấp chứng chỉ, có thành tích, thành tựu và ứng dụng nghệ thuật được công chúng công nhận, có tầm ảnh hưởng thậm chí không chỉ trong nước .v.v. Vậy nếu mới chỉ soi qua cơ bản những tiêu chí ấy, bao nhiêu “ông đồ” của ta được gọi là nhà thư pháp theo đúng nghĩa? Còn chưa nói đến việc dùng nguyên chữ “Thư pháp gia” hay “Thư gia” thì sức nặng của nó là rất lớn và đã được nâng tầm lên rất cao, ngõ hầu ở Việt Nam ta chưa có ai, kể cả trong lịch sử (chưa thấy hoặc có thì hầu như không đủ để xây dựng một diện mạo cho quá khứ) đến thời điểm hiện tại có thể xứng đáng, xứng tầm được nâng lên hàng “… gia” theo như cách định danh chính thức và chính thống của nó (những người đang theo đuổi Thư pháp một cách thực sự hiện nay, do thực tế xã hội cũng chỉ hoạt động được ở mức bán chuyên nghiệp).

“Trăm nghìn đổ một trận cười như không”

Trong vòng 20 năm trở lại đây, có thể điểm tên các cuộc triển lãm Thư pháp, Thư họa mang tính bán chuyên nghiệp đến chuyên nghiệp như Phan Cẩm Thượng – Nguyễn Quân (Hàng Khay – 1996), Lê Xuân Hòa (Văn Miếu – 1997), Lê Quốc Việt (Văn Miếu – 1999) , Triển lãm Thư pháp toàn quốc (Unesco Thư pháp Việt Nam , Văn Miếu – 2000), Nhị thập bát tú (Văn Miếu – 2006), Hồn thu thảo (Văn Miếu, Hoàng Thành – 2007), Chữ (Zenei Gang of Five – 2007), Vũ Hội chữ (Maison Des Arts, 31A Văn Miếu – 2008), Tôi nghe như thế này (Lê Quốc Việt – 2008) Triển lãm Thư pháp hai miền Bắc Nam (Văn Miếu – 2009), Triển lãm giao lưu Thư pháp Việt Nam – Hàn Quốc (Văn Miếu – 2009), Triển lãm giao lưu Thư pháp Hàn Quốc – Việt Nam (Jeju Hàn Quốc – 2010), Vô ngôn (Zenei Gang of Five – 2010), Nhật ký trong tù và Thơ chữ Hán chủ tịch Hồ Chí Minh (Văn Miếu – 2013). Những người đã tham gia những kỳ cuộc này, đặc biệt là những người đi đầu, những người đặt nền móng hoặc những người chủ chốt làm nên những cuộc triển lãm ấy đã và sẽ còn tham gia những kỳ cuộc khác sau này nữa, chính họ mới thực sự và sau này có thể trở thành những nhà Thư pháp một cách hoàn toàn xứng đáng khi tên tuổi, tài năng, học vấn, tài tình và nhân cách được khẳn định. Họ vừa có thể làm thầy đồ một cách đúng nghĩa, họ vẫn có thể tham gia sinh hoạt nghệ thuật vỉa hè phục vụ công chúng bình dân, nhưng chỉ có họ mới có thể làm nên những câu chuyện lớn và đang làm cho câu chuyện Thư pháp nước nhà được sống dậy, chuyển mình sau hơn nghìn năm khép bóng.

Khổng Tử nói: “Gửi chí vào đạo, giữ trọn cái đức, nương lấy lòng nhân, đắm mình du hý trong nghệ thuật” (Chí ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du ư nghệ).

Những cuộc triển lãm Thư pháp, Thư họa những năm gần đây được tổ chức, diễn ra một cách hoành tráng, hướng tới độ chuyên nghiệp và hơn hết là chất lượng tác phẩm nghệ thuật được đánh giá đúng tầm nghệ thuật và hầu hết mang lại giá trị kinh tế kha khá nhất định mà việc viết lách xin hay mua bán nơi vỉa hè không bao giờ mơ tới được. Có điều thú vị là, trong các kỳ cuộc ấy hầu như không có bóng những “ông đồ” đang cho chữ khắp thiên hạ ngoài kia, chỉ có bóng dáng những con người tuổi trẻ, miệt mài với giấy bút mực nghiên và muốn làm những câu chuyện lớn, có ích, thậm chí mơ tới một ngày dựng lại được toàn bộ diện mạo Thư pháp nước nhà không chỉ của hôm nay mà còn của cả nghìn năm qua. Họ gửi chí của mình vào con đường mà họ muốn đi tới cùng, giữ cái đức của mình không cho thói chợ búa chộp giật làm hoen bẩn, họ tiến thân lương thiện bởi có gốc rễ lòng nhân, họ đắm chìm và du hý trong nghệ thuật một cách miệt mài bằng sự nghiêm túc và tinh thần sáng tạo. Họ có thể nói và có thể làm. Ai đó có thể cười, người không biết có thể chê, “trăm nghìn” có thể “đổ một trận cười như không”, nhưng họ vẫn làm. Chỉ có bước đi, đi tiếp, đi nữa, đi mãi mới thành đường, đi hết đường mới mong đạt đạo.

Đắc thiên hạ anh tài nhi giáo dục chi (Có được anh tài trong thiên hạ để đào tạo bồi dưỡng) - Thủ bút của nhà Thư pháp Lại Cao Nguyện, tác phẩm đã được đăng tải và giới thiệu trên tập san thư họa Hồng Lệ, Trung Quốc

Đắc thiên hạ anh tài nhi giáo dục chi (Có được anh tài trong thiên hạ để đào tạo bồi dưỡng) – Thủ bút của nhà Thư pháp Lại Cao Nguyện, tác phẩm đã được đăng tải và giới thiệu trên tập san thư họa Hồng Lệ, Trung Quốc

Nhiều người tâm huyết thuộc thế hệ đi trước, những bậc thư pháp lão thành như nhà giáo Lại Cao Nguyện đã cao tuổi, người sáng lập ra CLB Thăng Long Thư Họa và có công lớn trong việc thành lập, duy trì và phát triển CLB Unesco Thư pháp Việt Nam, gắn bó nhiều năm với công tác giáo dục Thư pháp và luôn đau đáu với phong trào, nay cũng không khỏi bùi ngùi nhưng xúc động khi nhìn thấy những câu chuyện mà những người trẻ đã và đang làm, trong mắt ánh lên niềm phấn khởi, và biết rằng mình đã không uổng công giữ lửa, trao ngọn cờ đúng người, đúng tay, đúng việc.

Ngọn lửa lưu giữ cốt cách văn hóa và bản lĩnh dân tộc dù qua ngàn năm chưa từng mất đi mà vẫn được được trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Lịch sử có thể thăng trầm, văn hóa có thể thay đổi, nhưng ngọn lửa ấy vẫn sẽ luôn còn cháy mãi, trường tồn.

Apr 27, 2015. Tiết cuối xuân.
Xuân Như

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
NGƯỜI ĐĂNG
Admin: Nếu quý vị muốn đăng tải, chia sẻ bài viết, tài liệu, hình ảnh xin vui lòng gửi về bbt@thuhoavietnam.com hoặc viết bài trên Diễn đàn
 
Viết phản hồi