Tranh Đông Hồ chờ ngày… “khai tử”

 
Đăng bởi: 29 November 2012
views  846 lượt xem
CHIA SẺ:

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hậu nuối tiếc: “Nếu được chọn một bức tranh đại diện dân tộc, thì đó sẽ là tranh Đông Hồ, nhưng chút màu cuối ấy đang phai nhạt mất rồi”

Đáng tiếc là sau nhiều thế kỷ tồn tại, dòng tranh dân gian được coi là “quốc hồn” này đang đứng trước nguy cơ bị “khai tử”.

Đời tranh…

Trong các dòng tranh dân gian như tranh Hàng Trống (Hà Nội), tranh Kim Hoàng (Hà Tây cũ), tranh làng Sình (Huế)… dòng tranh Đông Hồ là loại hình nghệ thuật độc đáo và gần gũi với đại đa số người dân Việt Nam nhất, bởi nó gắn liền với mọi làng quê và trong nhiều sinh hoạt của con người.

Theo sách “Bắc Ninh địa dư chí” của cử nhân Đỗ Trọng Vĩ, làm quan Đốc học Bắc Ninh cuối thế kỷ 19 thì Tiết độ sứ Cao Biền thời Đường sang cai trị nước ta đóng quân ở Đông Hồ, chia nơi đây làm 5 doanh, sau lập thành 5 ấp trong đó có Đông Hồ. Trong thời gian đó, Cao Biền đã dạy cho dân làng cách làm hàng mã, trong đó có nghề làm tranh. Như vậy, có khả năng tranh Đông Hồ xuất hiện trong khoảng thời gian 866-873 (?).

Sách “Tứ thời khúc vịnh” của Thượng thư Hoàng Sĩ Khải viết vào khoảng cuối thế kỷ 16 đã kể đến một số loại tranh thờ như sau: Ngũ hổ, Chung Quỳ (nhân vật thời Đường có thể bắt ma quỷ), đào phù (vẽ hai vị thần trấn quỷ), tranh vẽ gà trừ tà, tranh đối liễn để chơi. Trong quá trình làm tranh, nghệ nhân Đông Hồ đã đổi mới để tạo nên nét riêng cho dòng tranh cổ, đó là tranh nền điệp giấy dó. Vỏ điệp mua về giã nhỏ, rây lấy bột mịn trộn với hồ quét lên giấy dó (loại giấy được chế từ vỏ cây dó).

Các loại màu cũng chế từ thiên nhiên sẵn có ở địa phương, màu đen từ than lá tre, màu vàng từ hoa hoè… tạo cho sắc tranh có độ xốp, ấm, lung linh huyền ảo. Theo hoạ sĩ Phan Cẩm Thượng, trong số hàng trăm dòng tranh dân gian của Trung Quốc, hiếm dòng có nền điệp như tranh Đông Hồ.

Ký ức đẹp về một dòng tranh cổ

Ký ức đẹp về một dòng tranh cổ

Giống vòng đời của một con người, tranh Đông Hồ cũng trải qua biết bao thăng trầm, thịnh suy. Từ cuối thế kỷ XIX cho đến Cách mạng Tháng 8.1945 là thời kỳ cực thịnh của tranh. Đến những năm kháng chiến, nghề tạm thời đứt đoạn. Sau ngày đất nước thống nhất, tranh mới có cơ hội “phục sinh”.

Từ năm 1970 đến 1985, tranh Đông Hồ được xuất sang 12 nước xã hội chủ nghĩa. Từ đó đến nay, do sự thay đổi về nhu cầu thẩm mỹ và tác động của kinh tế thị trường, dòng tranh Đông Hồ tồn tại lay lắt.

Nhớ tranh, nhưng bất lực

Chúng tôi tìm về miền cổ tích – làng Đông Khê (hợp bởi làng Đông Hồ cũ và làng Tú Khê), xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh một ngày đầu tháng 10. Điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là nhà cụ Nguyễn Hữu Sam – một trong hai nghệ nhân còn sót lại với tranh Đông Hồ.

Ngôi nhà nhỏ nằm sâu trong ngõ, tấm biển chỉ “tranh dân gian Đông Hồ” như lạc lõng giữa đống đồ nghề hàng mã. Cụ Sam tiếp tôi trong phòng khách, nơi treo những sản phẩm tranh Đông Hồ quý giá của gia đình. Dù tuổi đã ngoài 80, nhưng cụ vẫn minh mẫn, đặc biệt khi nói về tranh, ánh mắt cụ như sáng lên và hào hứng.

Cụ kể, nhớ như in cái thuở còn để tóc trái đào, lúc đó, cả làng Đông Hồ nhà nhà làm tranh, kẻ mua, người bán tưng bừng, nhất là những ngày Tết: “Xưa, người ta chuộng tranh Đông Hồ không chỉ vì đây là một trong những dòng tranh hiếm mà còn bởi tranh phản ánh đậm nét cuộc sống gắn liền với văn hóa người Việt như trò chơi dân gian đánh vật, múa sư tử, hay tấn công trực diện vào những thói hư, tật xấu, trong xã hội như đánh ghen, đám cưới chuột…”.

Theo cụ Sam, để hoàn thành một bức tranh, không kể khâu khắc trên bản gỗ, người làm tranh phải rất công phu, cẩn thận trong từng công đoạn. Một bức tranh có bao nhiêu màu thì ứng với ngần ấy bản in, trong đó, cứ in hết một màu, đem phơi khô rồi mới in tiếp màu khác… Nhìn lại tranh Đông Hồ hiện nay, cụ nghẹn ngào: “Tranh Đông Hồ ngày nay vẫn giữ nội dung và thực hiện những thao tác thủ công truyền thống ấy, nhưng do sự cạnh tranh của nhiều loại hình giải trí khác nên người ta quên tranh Đông Hồ rồi…”.

Là nghệ nhân đời thứ 22 gắn với nghề tranh của gia đình, ông Nguyễn Đăng Chế đã mạnh dạn lập công ty tạo đầu ra cho tranh, với tên gọi “Trung tâm văn hóa dân gian truyền thống”. Ngoài ra, để tăng sức hấp dẫn của tranh, ông Chế còn làm khung hay những cuốn sổ ghi chép nhỏ bằng giấy điệp và in tranh với đủ các mệnh giá từ 10 nghìn đồng đến hàng triệu đồng, cốt sao chỉ mong giữ được chút hương nghề của làng.

Một khuôn viên rộng hơn 5ha vừa là nơi sản xuất vừa là nơi giới thiệu sản phẩm được ông gửi gắm cho con trai – anh Nguyễn Đăng Nhân – người tiếp nối nghề tranh của dòng họ Nguyễn Đăng tại làng Đông Khê.

Theo anh Nhân, tranh Đông Hồ sẽ mất dấu hẳn trong mươi năm nữa, nếu như không có một tác động kịp thời để “ứng cứu”. Hiện tại, cơ sở tranh của anh được coi là có sinh khí nhất làng, nhưng tranh bán dè dặt, khách du lịch chỉ đến xem tranh chứ không mua. Người dân trong làng từ lâu đã quên sự hiện diện của “đặc sản” quê hương trong gia đình… Và đã lâu lắm rồi anh Nhân không làm những bức tranh giá tiền triệu.

“Thú thực, mấy năm nay kinh tế khó khăn, việc đảm bảo hoạt động của công ty và vì giữ nghề nên còn làm, chứ tranh bán ế lắm. Những bức giá vài trăm, hầu như khách không hỏi tới, nói gì tranh tiền triệu” – anh Nhân cho biết.

Để hấp dẫn khách, phòng tranh nhà anh Nhân còn bày thêm hàng khác

Để hấp dẫn khách, phòng tranh nhà anh Nhân còn bày thêm hàng khác

Nhìn đống tranh xếp đầy trên giá, bản khắc vứt góc nhà bị phủ bụi lâu ngày, mạng nhện chăng dọc ngang, ai nấy đều không khỏi xót xa. Với những nghệ nhân như cụ Sam, ông Chế, thương tranh, tiếc nghề cũng chỉ biết để trong tâm, chứ biết làm sao hơn?

“Màu dân tộc” lu mờ?

Rời nhà của hai nghệ nhân, tôi dạo quanh quê hương Đông Hồ. Trước vốn khởi nghiệp từ hàng mã và bây giờ, Đông Hồ cũng đang là thời của hàng mã. Thấy chúng tôi cố gắng tìm kiếm dấu tích của tranh, một cụ bà chép miệng: “Tranh chết rồi cháu ạ. Hàng mã đã đuổi tranh đi…”.

Ông Nguyễn Văn Tuân – Phó Chủ tịch xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tiếp lời: “Làng tranh Đông Hồ giờ chỉ còn tiếng thôi, chứ thực thì chỉ còn có 3 hộ làm, trong đó có 1 hộ làm với quy mô lớn, 2 hộ còn lại cũng chỉ làm túc tắc thôi”. Cũng theo ông Tuân, dù chính quyền địa phương đã tạo nhiều điều kiện để khuyến khích người dân giữ nghề: Cho thuê mặt bằng mở xưởng vẽ, kiến nghị với ngân hàng chính sách cho vay ưu đãi… nhưng chừng đó vẫn chưa đủ sức để giữ được nghề.

Đồ hàng mã đã “đuổi” tranh đi.Đồ hàng mã đã “đuổi” tranh đi.

Đồ hàng mã đã “đuổi” tranh đi.Đồ hàng mã đã “đuổi” tranh đi.

“Gần chục năm về trước, các hộ trong làng lần lượt bỏ tranh hoặc làm cầm chừng, đến nay thì họ đã chuyển hẳn sang làm vàng mã. Lãi không nhiều, nhưng còn đủ sống”, ông Lê Xuân Bắc – Trưởng phòng VHTT huyện Thuận Thành cho biết.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hậu nuối tiếc: “Nếu được chọn một bức tranh đại diện dân tộc, thì đó sẽ là tranh Đông Hồ, nhưng chút màu cuối ấy đang phai nhạt mất rồi”. Cùng chung nỗi trăn trở này, Giáo sư Tô Ngọc Thanh – Chủ tịch Hội Văn hóa Văn nghệ dân gian Việt Nam cho rằng, chính sự du nhập của quá nhiều loại hình văn hóa không được chọn lọc kỹ đã át đi sức sống của tranh làng Hồ. Để bảo tồn tranh, theo ông, nên đưa nghệ thuật tranh Đông Hồ vào một trong những môn học của đồ họa để sinh viên và các họa sĩ có thể tìm hiểu, tham khảo.

Bên cạnh đó, nhiều giải pháp như đầu tư, hỗ trợ cho những nghệ nhân làm loại tranh này, nên coi tranh Đông Hồ là yếu tố văn hóa đặc biệt cần bảo lưu… cũng được ông Tô Ngọc Thanh cũng như nhiều nhà nghiên cứu đưa ra tại các hội thảo. Song đến giờ, tranh Đông Hồ vẫn không thể tìm được sự giúp đỡ từ cơ quan chức năng.

Còn nhớ cuối tháng 9.2004, được sự hỗ trợ của Tổng cục Du lịch, Sở VHTTDL Bắc Ninh đã khai trương “Phòng tranh Đông Hồ”, nhưng những cố gắng cũng chỉ được đến thế, khi thực chất là sự “gắn thêm mác” cho phòng tranh của gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế. Từ đó cho tới nay, câu chuyện về hướng đi của tranh Đông Hồ vẫn bị bỏ ngỏ, mặc thời gian đẽo gọt và sự già nua của người giữ nghề. Không biết rồi ít năm nữa, đám trẻ nhỏ có còn được thấy “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”, hay màu sáng ấy chỉ còn đọng lại trên trang thơ của thi sĩ Hoàng Cầm?

Nguyễn Văn
Báo Lao Động

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
NGƯỜI ĐĂNG
Admin: Nếu quý vị muốn đăng tải, chia sẻ bài viết, tài liệu, hình ảnh xin vui lòng gửi về bbt@thuhoavietnam.com hoặc viết bài trên Diễn đàn
 
Viết phản hồi