Phát hiện mới: Tấm bia cổ nhất Việt Nam

 
Đăng bởi: 20 September 2012
views  529 lượt xem
CHIA SẺ:

Đầu tháng 8 năm 2012, tổ công tác thuộc phòng Nghiên cứu Sưu tầm Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh đã phát hiện và sưu tầm được hai cổ vật độc đáo ở chùa Thiền Chúng (Thuyền Chúng), huyện Long Biên, xứ Giao Châu xưa.

1. Bia mộ tháp: gồm hai phần có hình gần vuông, kích cỡ (45cm x 46cm) úp khít vào nhau: Phần dưới (thân bia) dày 9cm được cắt khá nhẵn xung quanh, một mặt khắc chữ Hán còn rất rõ nét, gồm 133 chữ, chia thành 13 dòng, dòng đầu khắc 4 chữ “Xá lợi minh tháp”, dòng thứ 2 ghi khắc “Duy Đại Tuỳ nhân thọ nguyên niên tuế thứ Tân Dậu thập nguyệt Tân Hợi sóc thập ngũ nhật Ất Sửu”. Nội dung cơ bản được lược dịch như sau:

“Trước ngày Ất Sửu (tức ngày 15), tháng Tân Hợi (tháng 10), năm Tân Dậu nước Đại Tuỳ niên hiệu Nhân Thọ năm thứ nhất (601).

Hoàng đế cẩn trọng mở rộng dòng thuyết pháp, mở cõi u hiển đến mọi sinh linh ở chùa Thuyền Chúng (Thiền Chúng) thuộc huyện Long Biên đất Giao Châu để kính cẩn dựng ngôi tháp thiêng đặt yên xá lợi theo ước nguyện của Thái tổ Vũ Nguyên hoàng đế, Nguyên Minh hoàng hậu.

Tất cả các bậc từ hoàng đế, hoàng hậu, hoàng thái tử, đến các con cháu trong hoàng tộc cùng các quan được sủng ái, thứ dân không kể lục đạo, tam đồ trên cõi đời đều thuận theo lời dạy của đức Phật mãi thoát khỏi cõi khổ ải trầm luân, cùng hưởng quả phúc.

Sắc cho Đại đức Tuệ Nhã pháp sư, Lại bộ Vũ kỵ uý Khương Huy dựng ngôi tháp và an vị xá lợi ở đó…

Mặt bia

Phần còn lại (nắp đậy) mỏng hơn dày khoảng 4 cm úp lên trên phiến đá có chữ, mặt dưới tạo gờ nổi xung quanh đặt xuống vừa khít vào phần khắc chữ phía dưới, mặt trên tạo góc bạt chéo hình trụ.

2. Liễn (đỉnh) đá: bên cạnh bia mộ tháp nêu trên tại vị trí phát hiện các di vật còn có một liễn (đỉnh) đá. Hiện vật này trên có nắp đậy cũng bằng đá – loại đá gần giống như bia đá, kích cỡ (45cm x 46cm) lòng sâu 20cm cỡ (26cm x 27,5cm), nắp đậy có kích cỡ (45cm x 46cm x 8cm)(2).

Cả hai di vật trên đều đặt trên một tấm đá hình chữ nhật dày 25cm, kích cỡ (65cm x 100cm).

Bia và Liễn

Các di vật trên do ông Nguyễn Văn Đức, thôn Xuân Quan, xã Trí Quả, huyện Thuận Thành đào được từ cuối năm 2004 trong lúc đào đất làm gạch ở khu đồng sau chùa, cách chùa làng Xuân Quan hiện nay khoảng 20m. Ông Đức cho biết: khi đào đất làm gạch ngói đã dùng máy múc để đào. Các di vật bằng đá nằm ở độ sâu hơn 2m, khi đào được các di vật này, bia mộ tháp có 2 phần úp khít vào nhau bằng chất kết dính gì đó mà phải cậy bằng mai đào đất mãi mới tách đôi ra được, và vì thế cạnh ngoài nắp có chữ bị sứt vỡ mấy miếng nhỏ nhưng không ảnh hưởng tới phần khắc chữ. Ở mặt trong cả 2 nắp bia khi cạy ra đều sạch bóng, không có chất gì khác bám vào mặt, kể cả nước. “Liễn (đỉnh) đá” có nắp đậy, ở bên trong có một ít tạp chất màu thâm đen, phải chăng là gio cốt cao tăng (thiền sư)? Sau khi đào được các di vật đá nêu trên, ông Đức đem bộ bia đá và nắp đá đậy trên “liễn (đỉnh) đá” về nhà, còn lại ông mang ra chùa làng (Huệ Trạch tự) từ đó đến nay ít người được biết.

Sau khi Phòng Nghiên cứu Sưu tầm Bảo tàng báo cáo về tình hình các cổ vật quý hiếm này. Tôi cùng GĐ Ban quản lý di tích tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Duy Nhất, trưởng phòng VHTT huyện Thuận Thành Lê Xuân Bắc đã xuống địa phương làm việc với ông Nguyễn Văn Đức. Và ông Đức đã quyết định hiến tặng các di vật này cho Bảo tàng tỉnh để bảo quản và phát huy tác dụng.

Tên chùa Thiền Chúng (Thuyền Chúng) ghi khắc trong bia mộ tháp chúng tôi đã tra cứu nhiều tư liệu sử sách từ xưa đến nay mới thấy có sách “Thiền Uyển Tập Anh” – Quyển Hạ (trang 102) có ghi về 1 chùa mang tên là “Thiền Chúng” như sau: “Thiền sư Định Không (? – 808) ở chùa Thiền Chúng, làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức, nhưng ở phần chú cuối trang lại ghi “Cảm ứng xá lợi ký do Vương Thiệu viết vào cuối năm 601 dẫn trong “Quảng hoằng minh tập” có ghi chùa Thiền Chúng như là nơi dựng tháp rước xá lợi vào năm đó tại Giao Châu. “Thiền uyển tập anh” nói dựng tháp nơi chùa Pháp Vân, có lẽ hợp lý hơn”.

Sách “Chùa Việt Nam” của Giáo sư Hà Văn Tấn cũng ghi rõ: “Việc Tuỳ Văn Đế ra lệnh xây tháp xá lị trong khoảng các năm 601 – 604 được chép trong nhiều tài liệu Phật giáo Trung Quốc như “Quảng Hoằng Minh tập”, “Tập trần Châu tam bảo Hàm Thông lục”, “Tục cao tăng truyện”, nhưng riêng ở Giao Châu chỉ thấy nói đến việc xây tháp ở chùa Thiền Chúng.

Địa điểm phát hiện các cổ vật trên thuộc khu đất chùa làng Xuân Quan (Huệ Trạch tự), xã Trí Quả, huyện Thuận Thành ngày nay. Chùa nằm ở địa phận giáp phía Bắc thành cổ Luy Lâu – thủ phủ của chính quyền đô hộ phương Bắc trong những thế kỷ đầu Công nguyên. Phật chủ chùa này là Đại thành pháp vân Vương phật – là vị “Tứ Pháp trưởng” làm chủ tế địa phương. Chùa Huệ Trạch thuộc hệ thống chùa thờ “Tứ pháp” vùng Dâu, là một trong những địa điểm đóng quân lớn của quan quân nhà Trần, do tướng Trần Hồng (con vợ thứ của Trần Quốc Tuấn) chỉ huy trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông TK XIII. Và sau đó chính ông đã cho dân địa phương xây dựng chùa này(3) (Vị trí phát hiện các di vật trên cách thành Luy Lâu khoảng 800m, cách chùa Dâu khoảng 1.000m về phía Bắc). Các tư liệu chữ Hán hiện còn ở chùa Huệ Trạch, trong đó có một bia đá tứ diện là cổ nhất – dựng khắc năm Chính Hoà thứ 20 (1699) nội dung ghi “Huệ Trạch tự tôn tạo hồng chung các thanh bi ký”, nhưng đều không ghi gì về chùa Thiền Chúng xưa.

Về niên đại khắc bia mộ tháp ở chùa Thiền Chúng: nội dung bia chỉ ghi ở dòng đầu là: “Trước ngày Ất Sửu (tức ngày 15) tháng Tân Hợi (tháng 10), năm Tân Dậu nước Đại Tuỳ, niên hiệu Nhân Thọ năm thứ nhất (601)”.

Cùng thời điểm phát hiện bia mộ tháp chùa Thiền Chúng – trên báo Dân trí điện tử ngày 14 tháng 6 năm 2012 có bài của tác giả Trần Tử Quang nhan đề “Chuyện về tấm bia cổ nhất Việt Nam” với niên đại là 1304. Đây là loại bia “Ma Nhai” (tg – bia mài, khắc trên vách núi…)

Trong bài “Đâu là tấm bia cổ nhất Việt Nam?” của Đỗ Quốc Bảo khẳng định lại: ít nhất có 3 tấm bia còn cổ hơn tấm bia ông Quang công bố. Tấm bia thứ nhất là bia chùa “Bảo Ninh Sùng Phúc” dựng khắc năm 1107; bia thứ hai là bia “Mộ chí phu nhân Phụng Thánh” ở chùa Phúc Thánh (Phú Thọ), được dựng khắc từ những năm giữa thế kỷ XII. Tấm bia thứ ba ở Hoàng Kim (thị trấn Quốc Oai – Hà Nội) có niên đại vào cuối thế kỷ XI.

Tại Bảo tàng lịch sử quốc gia Việt Nam có tấm bia đá “Đại Tuỳ Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn” (618) phát hiện sưu tầm từ đền Lê Ngọc, thôn Trường Xuân, xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, nên còn có tên là “Bia cổ Trường Xuân”. Nội dung ghi về thân thế sự nghiệp của Hào trưởng Lê Cốc cùng các con cháu nổi dậy chống lại nhà Đường. Cuối bia ghi họ tên tác giả và niên đại văn bia là ngày 8 tháng 8 năm Mậu Dần, niên hiệu Đại Nghiệp tức ngày 18 tháng 8 năm 618(4).

Vậy đâu là tấm bia cổ nhất Việt Nam?

Xét riêng về loại bia “Mộ tháp” các bậc cao tăng – Thiền sư – thì bia mộ tháp ghi niên hiệu Đại Tuỳ (601) ở chùa Thiền Chúng, huyện Long Biên, đất Giao Châu phải chăng là bia cổ nhất Việt Nam – tính đến thời điểm hiện nay.

Bia mộ tháp chùa Thiền Chúng là DSVH vật thể độc đáo ghi khắc về tên huyện Long Biên, xứ Giao Châu, góp phần quan trọng minh chứng cho các tư liệu, sử sách và các công trình nghiên cứu khoa học (luận văn, luận án) khi xác định – Long Biên ở vùng hoặc chính là Luy Lâu.

Bia và Liễn

Chùa Thiền Chúng ghi trong bia mộ tháp được xây dựng từ đó, sau khi bị đổ nát quá lâu ngày nên đã bị lãng quên trong lịch sử. Chùa tan, tháp đổ nên sau đó các cổ vật bên trong đã được chôn cất sâu và bày đặt rất cẩn trọng trong lòng đất thuộc khu vực chùa xưa, đến nay tình cờ mà người dân đào đất làm gạch ngói đã phát hiện được. Do các cổ vật được phát hiện từ lâu (1994), lớp đất vùi bên trên, người dân dùng làm gạch ngói hết, nên sau này tiến hành nghiên cứu khảo sát lại địa điểm phát hiện cổ vật trên, các cán bộ ngành văn hoá không tìm được các di vật gì khác góp phần minh chứng thêm về các cổ vật bằng đá đã đào được từ trước đây (gần 10 năm).

Hai di vật nêu trên cùng với “mảnh khuôn đúc trống đồng” do nhà khảo cổ học Nhật Bản Ni si mu ra phát hiện ở trong thành cổ Luy Lâu năm 1999 và hai bộ sách kinh bằng đồng (55 tờ = 112 trang) phát hiện năm 2009 trong tháp đá Tôn Đức nơi đặt xá lị của Thiền sư Minh Hành ở chùa Bút Tháp do Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc và Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên cho khắc năm 1660 (cách Luy Lâu 3km)… là những cổ vật quý hiếm – xứng đáng đưa vào danh mục “Báu vật quốc gia”. Đó là DSVH vật thể có giá trị độc đáo, góp phần minh chứng về vùng đất cổ Luy Lâu còn nhiều giá trị tiềm ẩn cần được tiếp tục khai thác nghiên cứu làm sáng tỏ thêm.

Từ ngày 8-8-2012 tấm bia mộ tháp và các di vật đá nêu trên được chuyển về Bảo tàng Bắc Ninh đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu lịch sử trong và ngoài tỉnh tới xem xét nghiên cứu. Đặc biệt là ngày 30-8-2012 vừa qua có Giáo sư viện sỹ Phan Huy Lê – Chủ tịch Hội KHLSVN, Phó Giáo sư Tiến sỹ – Viện trưởng Viện Khảo cổ học Việt Nam Tống Trung Tín, Tiến sỹ Nguyễn Văn Sơn – Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di sản văn hoá Thăng Long – Hà Nội; Tiến sỹ Nguyễn Huy Hạnh và các nhà nghiên cứu Nhật Bản… đã trực tiếp đến Bảo tàng Bắc Ninh nghiên cứu về “Báu vật” trên và đều có những nhận xét đánh giá cao về giá trị lịch sử của tấm bia đá cổ này.

Cùng ngày 30-8-2012, được sự giúp đỡ nhiệt tình của sư thày Thích Đàm Tâm (trụ trì chùa Huệ Trạch – tức chùa Xuân Quan, xã Trí Quả), Bảo tàng Bắc Ninh đã đưa được cả Liễn đá và phiến đá đặt hai “báu vật” – bia mộ tháp và liễn xá lỵ về Bảo tàng Bắc Ninh.

Lê Viết Nga
Theo Báo Bắc Ninh

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (3 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +2 (from 2 votes)
Phát hiện mới: Tấm bia cổ nhất Việt Nam, 10.0 out of 10 based on 3 ratings
NGƯỜI ĐĂNG

Admin: Nếu quý vị muốn đăng tải, chia sẻ bài viết, tài liệu, hình ảnh xin vui lòng gửi về bbt@thuhoavietnam.com hoặc viết bài trên Diễn đàn

 
Viết phản hồi