Chữ Lệ đời Hán, sự cách tân quan trọng của Thư pháp

 
Đăng bởi: 19 July 2012
views  1,322 lượt xem
CHIA SẺ:

Tương truyền triều Tần có một nô lệ tên Trình Mạc, mắc tội với Tần Thủy Hoàng, bị giam vào ngục. Trình Mạc thấy thẻ bài của quan coi ngục thời đó viết bằng chữ Triện rất phiền phức, bèn cải cách nó, chuyển phức tạp thành đơn giản, tròn chuyển thành vuông, sáng lập ra một thể chữ mới. Tần Thủy Hoàng xem rất khen ngợi, chẳng những xá tội cho, mà còn phong anh ta làm Ngự sử, và quy định đem ứng dụng thứ chữ này trong quan ngục. Vì Trình Mạc là một nô lệ, thể chữ này ban đầu chuyên ứng cho công việc nô dịch, nên gọi là chữ Lệ. Câu chuyện này có thể có nhiều khiên cưỡng. Thực ra cũng giống như việc ra đời Thư pháp, chữ Lệ cũng phải tích lũy dần theo năm tháng do nhiều người cùng sáng tạo, việc Trình Mạc làm có thể chỉ là công tác chỉnh lý.

Xét những tài liệu khảo cổ khai quật, những văn tự trên thẻ gỗ và thẻ tre đã có khuynh hướng thể chữ Triện đơn giản hóa, giảm bớt số nét, hình dạng chuyển sang vuông dẹt, bút pháp có khuynh hướng làn sóng. Đó là mầm mống của chữ Lệ. Thời Tây Hán, thành phần chữ Lệ trong thư pháp có tăng thêm. Tranh lụa Lão Tử thời Tây Hán, được khai quật ở gò Mã Vương thành phố Trường Sa đã có ý chữ Lệ rõ rệt. Chữ Lệ thuần thục vào thời Đông Hán. Thời Hán Hoàn Đế (147-167), Hán Linh Đế (168-189) là thời kỳ thịnh hành của chữ Lệ.

Chữ Lệ xuất hiện lại là một sự thay đổi lớn trên lịch sử thư pháp cũng như lịch sử chữ viết. Từ đây, thư pháp chia tay với chữ viết cổ từng kéo dài trên ba ngàn năm để bắt đầu bước vào chữ viết hiện nay, kết cấu chữ không còn hàm nghĩa hình tượng như chữ viết cổ, mà hoàn toàn trở thành những phù hiệu. Chữ Lệ tiếp trước mở sau, trước tiếp chữ Lệ, sau mở chữ Khải, là một sự chuyển biến và quá độ về chất. Với tư cách là nghệ thuật thư pháp, nó phá vỡ sự hạn chế bút pháp đơn nhất của chữ Triện trước nay, mở ra một sự biến hóa vô cùng phong phú. Người trước gọi bút pháp chữ Triện là “đũa ngọc”, tức là đôi đũa làm bằng ngọc, ngang bằng sổ thẳng, cân bằng đầy đặn. Chữ kết cấu có quy tắc nghiêm ngặt, tương đối ít thay đổi. Chữ Lệ không như vậy, nó điểm vạch rõ ràng, nhỏ to vừa mức, nét chữ đầu tằm đuôi én, một nét ba gợn. Bút pháp có vuông, có tròn, hoặc kiêm cả vuông tròn. Kết cấu hoặc cao hiểm trầm bổng, cứng khỏe vững chãi, hoặc đều đặn đẹp đẽ, tròn trĩnh xinh xắn, hoặc giữ chắc cung giữa, nhấn dừng trang trọng, hoặc mở to vòng lớn, khí phách bay bổng, thật đúng là biến hóa vô cùng, đua nhau khoe tốt. Đây thực là một chương tuyệt đẹp trong lịch sử thư pháp. Khang Hữu Vi tôn sùng hết mức chữ Lệ thời Hán, trong Quảng nghệ châu song tập ông viết: “Viết chữ không đâu phát triển bằng thời Hán, không chỉ riêng thể chữ phong độ cao, mà nó biến chế nhiều nhất, cao vững muôn đời. Đỗ Độ viết chữ Thảo, Thái Ung viết phi bạch (giữa nét chữ có những điểm trắng), Lưu Đức Thăng viết Hành thư, đều là người thời Hán. Cuối mùa, biến thành chữ chân khải, người đời sau không ai vượt qua được. Tóm lại, thể chữ đến mức cao ở thời Hán, biến hóa đã tới cùng”.

Phong cách hùng mạnh chất phác của thư pháp thời Hán có quan hệ với phong cách xã hội đương thời. Chữ Lệ thời Hán tiềm ẩn một khí thế rất lớn, chất chứa và dâng trào, sôi động một sức mạnh. Chữ Lệ thời Hán (Hán lệ) tinh đẹp tuyệt diệu cho đến nay vẫn lan tỏa sức hấp dẫn nghệ thuật vô cùng tận.

Tào Toàn Bi - Cục bộ

Tào Toàn Bi – Cục bộ

Hán lệ ngày nay chúng ta được thấy, đều được bảo lưu dựa trên những bia đá khắc từ thời đó. Đáng tiếc tác giả viết chữ thời đó không để lại tên họ, người sau đành chỉ đặt tên theo từng tấm bia hoặc theo nội dung chữ khắc trên từng tấm bia. Ví như: Bia Ất Anh, Bia Sử thần (Sử sớm), Bia Lễ khí (Vật tế lễ), Tụng thạch môn (Ca tụng cửa đá), Tụng Tây Hiệp, Bia Trương Cảnh, Bia Trương Thiên v.v…

Thư pháp thời Hán, ngoài khắc bia ra còn có thẻ Hán viết trên phiến gỗ (phía Bắc) và thanh tre (phía Nam). Chữ Hán lệ viết trên thẻ không nghiêm chỉnh, trang trọng, khí thế khoáng đạt như trên khắc bia, nhưng lại hoạt bát linh động, biến hóa nhiều vẻ, thậm chí ngẫu hứng, giàu chất hài hước. Nếu ví khắc bia với vẽ công bút, thì thẻ Hán giống như vẽ tả ý. Thẻ Hán thể chữ hồn nhiên, đầu thô tùy tiện, không viền mép, thậm chí qua loa đại khái, trong đó có một số hình như lộ ra những thông tin về viết chữ Thảo của người Tấn.

Trích từ “Mỹ thuật Trung Quốc”

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
NGƯỜI ĐĂNG

Admin: Nếu quý vị muốn đăng tải, chia sẻ bài viết, tài liệu, hình ảnh xin vui lòng gửi về bbt@thuhoavietnam.com hoặc viết bài trên Diễn đàn

 
Viết phản hồi