Làng giấy dó Yên Thái

 
Đăng bởi: 26 December 2008
views  4,102 lượt xem
CHIA SẺ:

Làng giấy dó Yên TháiLàng nghề giấy nổi tiếng Yên Thái, còn gọi là làng Bưởi, ở phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội. Nghề làm giấy ở đây bắt đầu từ thế kỷ XV, được Nguyễn Trãi nói đến, khá rõ, trong sách “Dư địa chí” của ông (viết năm 1435): Phường Yên Thái ở Thăng Long đương thời chuyên làm giấy; người thợ lao công ở đây đã làm ra giấy thị (để viết chỉ thị), giấy lệnh (để ghi mệnh lệnh).

Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ
(Ca dao)

Chày Yên Thái nện trong sương chểnh choảng
Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co
(Nguyễn Huy Lượng – ‘Tụng Tây Hồ phú’)

Thực ra, phường Giấy Yên Thái không chỉ riêng người làng Yên Thái làm giấy, mà bao gồm cả làng Đông Xá, Hồ Khẩu cũng làm giấy, Làng Nghĩa Đô xưa kia có dòng họ Lại đời nối đời làm một loại giấy đặc biệt, gọi là giấy sắc dành riêng cho vua dùng để viết sắc chỉ – trên nền giấy nổi lên mờ mờ hình rồng phun mây. Dân gianquen gọi loại giấy sắc là giấy Nghè, để chỉ thứ giấy làm ở làng Nghè (têncổ của làng Nghĩa Đô, sau này thành xã Nghĩa Đô).

Phường giấy Yên Thái trước đây luôn vang dội chày giã vỏ dó làm giấy. Âm thanh ấy đã đi vào ca dao, dân ca, đã gợi cảm hứng cho những tâm hồn thi nhân nghệ sĩ qua nhiều thế kỷ.

Thế nhưng đằng sau những tờ giấy thanh tân, đằng sau cái nhịp chày Yên Thái nện trong sương giữa quanh co ngọn nước “mặt sương Tây Hồ” kia đã mấy ai hiểu hết sự khó nhọc của người thợ làm giấy! Trong cuốn “Ca dao ngạn ngữ Hà Nội” do Triều Dương và những người khác sưu tầm, văn nghệ Hà Nội xuất bản năm 1971, có những câu ca dao về lao động của người thợ Yên Thái:

Giã nay rồi lại giã mai
Đôi chân tê mỏi, dó ơi vì mày

Hay:

Xeo đêm rồi lại xeo ngày.
Đôi tay nhức buốt vì mày giấy ơi!

Nghề làm giấy cổ truyền ở Yên Thái cũng như một vài nơi khác được chuyên môn hóa từ khá sớm.Nguyên do là nghề giấy phải qua nhiều công đoạn sản xuất, với kỹ thuật khá phức tạp. Nó đòi hỏi từng loại thợ ở từng công việc cụ thể phải có kinh nghiệm và giỏi nghề. Sự chuyên môn hóa ấy còn do mục đích sản xuất đạt sản lượng và chất lượng giấy theo mong muốn. Có thể nói, ở tất cả các công đoạn sản xuất – từ bóc vỏ dó, ngâm và giặt dó, giã dó, nấu dó, lọc dó, xeo giấy, đến đóng gói kiện giấy và vận chuyển đi bán – đều hết sức vất vả. Làm giấy thủ công trước đây hầu như hoàn toàn phải bằng sức người, bằng đôi tay trần của người thợ.

Sản xuất giấy cần rất nhiều nước mà phải là nước sạch. Lại phải cần phải cần lửa, để đốt lò nấu bột dó. Tờ giấy mỏng manh kia đã ra đời từ cây cỏ trong môi trường nước và lửa. Xưa kia, ở làng Yên Thái, người ta đã chọn ven bờ sông Tô Lịch để làm nơi sản xuất: ngâm, đãi, nấu dó. Những cái vạc lớn nấu bột dó đặt trêncác lò đắp đất trên bờ sông. Cạnh đấy là bãi sông – nơi ngâm, giậm và đãi vỏ dó. Trên bờ sông ấy có giếng nước rất sâu, trong mát, đã nổi tiếng một thời ở Thăng Long xưa. Bố trí và tổ chức nơi sản xuất giấy của làng nghề này vừa thuận tiện vừa hợp lý. Ở đây, dân gian đã phản ánh rất thực về cảnh đó bằng bài cao dao:

Ai ơi đứng lại mà trông
Kìa vạc nấu dó, kìa sông đãi bìa
Kìa giấy Yên Thái, như kia
Giếng sâu chín trượng, nước thì trong xanh.

Lò nấu dó của Yên Thái được đắp cao tới 5m. Miệng lò đặt chiếc vạc lớn, đường kính 2m. Vỏ dó được đun cách thủy trong vạc. Khi vỏ dó chín, người ta vớt ra đem ngâm nước vôi một lần nữa.

Dó nấu chín, ngâm nước vôi, được đem bóc hết lầnvỏ đen bỏ đi. Phần vỏ dó còn lại có màu trắng muốt, tinh khiết, được đem giã nhuyễn bằng cối lớn, chày tay. Thanh niên giã dó cả ngày lẫn đêm; giã trong nhiều ngày đêm mới đủ bột dó để sản xuất. Câu ca “Nhịp chày Yên Thái…” đã ra đời trong khung cảnh lao động rộn ràng của người thợ làng nghề giấy này.

Công việc hòa ngâm bột giấy trong bể lọc (gọi là tàu seo) và kỹ thuật seo giấy của những người phụ nữ làng Yên Thái không có gì khác các làng giấy khác, (xem kỹ thuật làm giấy làng An Cốc sau đây). Việc ép giấy cũng vậy. Nhưng người thợ Yên Thái lại dùng lò sấy là chủ yếu, ít khi phải đem phơi giấy. Dù trời mưa vẫn không ảnh hưởng đáng kể đến công việc, giấy vẫn được sấy khô như thường.Cần nhấn mạnh rằng, lò sấy giấy đã xuất hiện ở Yên Thái từ mấy trăm năm trước đây.

Sản phẩm truyền thống của Yên Thái chủ yếu là giấy bản để in sách và viết chữ nho (bằng bút lông, mực tàu) và giấy dó (dầy hơn giấy bản) để in tranh dân gian. Ngoài ra, thợ giấy Yên Thái cũng sản xuất loại giấy moi, giấy phèn bằng nguyên liệu xấu hơn. Mặt giấy ấy khô ráp, bán cho khách mua để gói hàng.

Các loại “đầu mặt” vỏ dó bị loại bỏ, gọi là “xề”, người Yên Thái đem bán cho làng Kẻ Cót để làm ra loại giấy xề. Ngày xưa, các, các cô gái làng Kẻ Cót (tên chứ là làng Thượng Yên Quyết) ở ngoại ô Thăng Long, chuyện đi mua nguyên liệu dó “xề” về làm thứ giấy xề – thô và xấu ấy…

Làng Yên Thái (làng Bưởi) vẫn còn đó. Nhưng nghề làm giấy dó cổ truyền của Yên Thái bây giờ không còn nhộn nhịp nữa. Người Yên Thái đang nung nấu một quyết tâm phục hồi nghề giấy, làm ra những sản phẩm độc đáo, qúy và đẹp cho đời.

Ths. Bùi Văn Vượng
(Tạp chí Thăng Long Hà Nội ngàn năm – Số22/2004)

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
NGƯỜI ĐĂNG
Admin: Nếu quý vị muốn đăng tải, chia sẻ bài viết, tài liệu, hình ảnh xin vui lòng gửi về bbt@thuhoavietnam.com hoặc viết bài trên Diễn đàn
 
Viết phản hồi