Ông đồ Nguyễn Văn Bách và những chuyện đời thâm thuý

 
Đăng bởi: 17 February 2011
views  3,486 lượt xem
CHIA SẺ:

Sáng ngày 2-10-2010, tại sân tượng đài Lý Thái Tổ, kiệt tác thư pháp “Thiên đô chiếu- Chiếu dời đô”, chữ đồng mạ vàng gắn trên nền gỗ quý đã được trao tặng Hà Nội nhân Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Nét chữ hào hoa, ngoạn mục của công trình này là của cụ Lỗ Công Nguyễn Văn Bách, năm nay 86 tuổi.

Ông đồ Nguyễn Văn Bách

Mặc dù có người gọi ông là nhà đại thư pháp, hay nhiều người gọi là danh y, nhưng ở cửa nhà ông chỉ treo biển đề ba chữ Nguyễn Văn Bách cho khách dễ tìm. Còn tôi, qua lại thường xuyên như một học trò nhỏ thì thấy dù có nhiều thay đổi nhưng cốt cách của ông trước sau vẫn là một ông đồ- ông đồ nhưng không cổ hủ, một ông đồ của cuộc sống đương đại…

Nhiều câu chuyện của ông khiến tôi suy ngẫm.

Tri sỉ cận hồ dũng

Là một người ở độ tuổi bát tuần, nhưng ông đọc báo, xem truyền hình và nắm tình hình thời sự, trong nước và quốc tế rất nhanh. Ông quan tâm đến văn học nên ngoài Tin tức, An ninh thế giới mua thường kỳ, ông còn có thêm tờ Văn nghệ. Có điều, những câu chuyện thời sự hay văn nghệ của ông luôn gắn với dòng chảy thời gian, đối chiếu với những những gì đã qua… Một lần nói về hội nhập, những đòi hỏi cao về hiểu biết đối tác, như các vị khách đến từ Hoa Kỳ biết lảy Kiều, biết dẫn bia Văn Miếu…ông kể lại một câu chuyện thú vị.

Một tay trùm mật thám Pháp ngồi trò chuỵên với các quan ta, nó bảo, trong Kiều có câu “Sè sè nấm đất bên đường/ Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh” dở quá, làm gì có ngôi mộ nào giữa mùa xuân mà cỏ mọc nửa vàng nửa xanh nhỉ? Các quan nhà ta chả biết nói thế nào, cũng phải tán đồng, đúng là không có lý thật. Chờ cho các quan gật gù xong ông ta mới nói, nhưng đọc tiếp thì thấy câu đó đúng là tuyệt cú. Lúc cô Kiều ghé mộ Đạm Tiên là buổi chiều tà, ánh mặt trời chiếu có một bên, thành ra ngôi mộ bên sáng bên tối, cỏ nhìn hoá hai màu. Tinh tế vô cùng các ông ạ. Các quan lại ồ lên, phục tài viên quan Tây mê Kiều và thẩm thơ sành sỏi.

Mà không phải chỉ giỏi tiếng Việt mà kiến thức Hán Nôm của ông ta cũng ghê. Câu ca dao: “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều/ Nhớ người đãy gấm khăn điều vắt vai” mà ông ta dịch thành thơ chữ Hán:

Hoàng hôn vô hạn hoàng hôn tứ
Hồng phách hà bao nhỡn lý nhân.

Hay câu “ Núi cao chi mấy núi ơi/ Núi che mặt trời chẳng thấy người thương” dịch là” Kỷ trùng nham thuý vô cùng hận/ Nhật ảnh vân già cách cố nhân” thì phải nói là tuyệt hay.

Một người nước ngoài mà hiểu biết sâu sắc về văn hoá nước ta như vậy đấy. Có hiểu biết kỹ đối tác thì công việc mới có hiệu quả cao. Hiện nay tôi thấy, trình độ của ta còn thấp, phải cố gắng lắm mới theo kịp các nước. Ông trăn trở.

Ông sinh ra trong một gia đình có người đỗ đạt, thân phụ của ông cũng là một ông đồ thanh bạch. Ông kế thừa được truyền thống Nho học của gia đình và được rèn chữ từ nhỏ. Việc học chữ, học viết theo nếp nhà vậy thôi vì lúc đó Nho học đã tàn, “ông Nghè ông Cống cũng nằm co” nhưng những cố gắng và lòng đam mê ấy đã làm nên tên tuổi một nhà Nho thâm hậu và nhà thư pháp có tiếng Nguyễn Văn Bách sau này.

Ông là người có thể đọc làu thông “Hịch tướng sĩ”, “Bạch Đằng Giang phú” rồi “ Bình Ngô đại cáo”, “Côn Sơn ca” hay “Xích Bích phú”, “A Phòng phú”, “Tư xuân phú”, và vô số các bài thơ Đường. Ông khổ luyện để trở thành một nhà thư pháp lớn, có nét chữ ngoạn mục, có thể kiếm sống từ năm 13-14 tuổi. Ông đã tham gia cùng với một số nhà xuất bản dịch các trước tác chữ Hán như thơ văn của các danh nhân Nguyễn Trãi, Ngô Quang Bích, Cao Bá Quát…

Có lần tôi hỏi, làm sao để có kiến thức uyên áo như vậy, thì ông nói, thấy xấu hổ khi mình dốt, “tri sỉ cận hồ dũng”, biết xấu hổ là gần như có dũng khí. Có dũng khí để mình cố gắng học hơn, chữ nào, cái gì mình chưa rõ thì phải tìm, phải học cho bằng rõ mới thôi. Cứ cố gắng, từng bước sẽ có kết quả.

Thế ra biết xấu hổ cũng là một phẩm chất quý.

Đối nhân, xử thế

Ông có ba người con trai đều ổn định và no ấm, trong đó người con trai thứ hai là một doanh nhân phát đạt. Ông sống ở ngõ Tràng Tiền cho tiện làm thuốc và viết chữ, ngày giỗ, ngày Tết thì ông lại xuống nhà anh con trai cả ở Hoàng Mai.

Năm nào cũng vậy, trước ngày giỗ cha mẹ, ông lặng lẽ chuẩn bị lễ cúng nhỏ, thắp hương và tụng kinh tưởng nhớ. Hôm đó ông ăn chay, ngồi thiền định. Ông bảo, tang cha mẹ là “chung thân chi tang”- để tang suốt đời, ngày giỗ không phải là ngày vui, đó là ngày để con cháu suy tưởng đến người đã khuất. Vì vậy mà tôi không bày vẽ cỗ bàn, mời mọc khách khứa ồn ào…

-Nhưng cũng là ngày con cháu họp mặt, cũng phải ăn uống cho nó vui chứ ạ?! Tôi nói.

– Cũng chiều ý con cháu, nên tôi làm lễ trước, còn hôm sau anh em nó bày ra mấy mâm con cháu trong nhà.

Một chuyện khác mà tôi thấy ở ông sự đôn hậu và tinh tế. Một nhà viết kịch nổi tiếng mà ông rất quý mến bị bệnh hiểm nghèo, ông cắt hàng trăm thang thuốc để giúp bệnh nhân chữa trị. Gia đình bệnh nhân đến thanh toán, tôi thấy ông nhận tiền. Sau đó, có lần ông nói, số thuốc đó ông có thể không lấy tiền nhưng nếu không lấy tiền thì khiến gia đình họ phải mang ơn mình. Phải lấy tiền, có điều số tiền chỉ bằng một phần giá thực thôi.

Khi nhà viết kịch mất, ông làm đối câu đối viếng chí tình: “Giai vận vĩnh tồn thành bất tử/ Trường tùng bách xích ứng lai sinh” nghĩa là, tác phẩm hay của ông còn mãi nên ông là người bất tử; kiếp sau hẳn ông là cây trường tùng cao trăm đốt. Đôi câu đối này hiện gia đình nghệ sĩ treo bên bàn thờ .

Một chuỵên nhỏ khác cho thấy tính cách của ông. Trong nhà ông có treo một bức thư pháp được chụp lại, phóng to lồng khung kính rất cẩn thận. Tôi nghĩ đó hẳn là chữ của ông hay của một danh nho nào đó. Hỏi ra thì không phải, đó là chữ của một cô bé hơn 10 tuổi của Trung Quốc. Mặc dù không phải chữ nào cũng đẹp nhưng ít tuổi mà viết được như vậy thật hiếm, “hậu sinh khả uý” nên ông cho chụp lại rồi phóng to để treo lên.

Tôi nghĩ, như vậy ông còn trẻ lắm, không mắc bệnh người già, lấy mình làm chuẩn cho xung quanh và ít công nhận người khác, nhất là trong lĩnh vực sở trường của mình.

Giang sơn hàm sấn tiếu

Ông dịch và viết thư pháp là chủ yếu, chữ của ông có mặt ở nhiều di tích quan trọng. Ba chữ Văn Miếu Môn ở tam quan và hai đôi câu đối ở nhà bia Văn Miếu -Quốc Tử Giám – Hà Nội là chữ của ông viết từ những năm 60-70 của thế kỷ trước, khi trùng tu di tích này. Gần đây , khi xây dựng nhà Thái học thờ Chu Văn An và ba vị vua có công gây dựng Văn Miếu- Quốc Tử Giám, ông được mời viết chữ cho cả bốn bộ hoành phi, câu đối.

Năm 1980, kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi, ông đã viết bản “Bình Ngô đại cáo” khổ lớn, để trưng bày trang trọng tại Lễ kỷ niệm. Trước đó, ông thể hiện bản “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo, bài thơ Thần, tương truyền của Lý Thường Kiệt. Năm nay, ông hoàn thành “Thiên đô chiếu” của Lý Thái Tổ, trưng bày tại Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội.

Ông viết không nhiều, và cũng ít phổ biến vì hầu hết là những bài tâm sự, nhưng những gì ông công bố thì thật đặc sắc, nhất là mảng câu đối. Năm 1988, kỷ niệm 800 năm chiến thắng Nguyên Mông lần thứ ba, ông có đôi câu đối đăng trên báo Nhân dân:

  • Cột đồng Mã Viện đâu rồi? Mỗi xuân về chợt nhớ nguyền xưa, dân Giao Chỉ mỉm cười trước gió
  • Cọc gỗ Bạch Đằng còn đó? Khi Tết đến chạnh niềm cố quốc, hồn Nguyên Mông than khóc bên ghềnh.

Đôi câu đối đã nhắc lại tích cột đồng Mã Viện với lời nguyền doạ dẫm “Đồng trụ chiết Giao Chỉ diệt – Cột đồng gãy thì nước Giao Chỉ bị diệt” bây giờ không còn bóng dáng. Người dân Việt nhớ lại mà cười ngạo nghễ. Nhưng cọc gỗ Bạch Đằng thì vẫn còn đó, với bao oan hồn lính xâm lược than khóc vì nhớ quê hương. Đôi câu đối thật hào sảng và thâm thuý.

Năm ngoái, một Đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài nhờ ông nghĩ cho đôi câu đối để dùng trong dịp Giỗ tổ Hùng Vương. Sau mấy đêm trăn trở, ông viết:

  • Tiên tổ tự mấy ngàn năm, dốc tâm can vun đắp bốn bờ, trải bao trăm đắng với ngàn cay, giữ vững âu vàng riêng cõi Vịêt
  • Con cháu tám mươi ba triệu,dồn trí lực ngắn dài năm ngón, kết chặt ba miền chung một dạ, xua tan mây tối rạng trời Nam

Đôi câu đối có hình ảnh của những thửa ruộng lúa nước mà cha ông bao đời vun đắp, để làm nên một “Sơn hà thiên cổ điện kim âu- Non sông nghìn thưở vững âu vàng”. Vế sau nhắc đến tình nghĩa đồng bào- “ba miền chung một dạ”, và kêu gọi người Việt trong nước và nước ngoài gạt bỏ mọi sự khác biệt, như bàn tay có ngón dài ngón ngắn, cùng góp sức xây dựng Tổ quốc Việt Nam… Ông đọc cho tôi nghe, vừa phân tích vừa rưng rưng nước mắt, nhất là mấy chữ “trải bao trăm đắng với ngàn cay”…

Tất nhiên, ông có nhiều câu đối chữ Hán, nhất là câu đối thờ các danh nhân, không thể kể hết. Một Việt kiều tại Hoa Kỳ rưng rưng xúc động khi ông viết tặng đôi câu đối: “Bắc Hải tuy xa phù khí tiếp/ Hồng sào mâu kết thục chi an“, theo điển cố nghĩa là, xa như biển Bắc mà một cơn sóng lớn (một cơ hội) đặc biệt có thể đưa ta đến được, ví như bà con Việt kiều bỗng có thể định cư và học hành tại các nước phát triển; Nhưng dù ở đâu, con chim Hồng vẫn làm tổ ở cành quen thuộc, cành Nam vậy. Câu này khiến ta nhớ đến câu “Việt điểu sào Nam chi”, con chim Việt bao giờ cũng làm tổ ở cành Nam, vì thế mà cụ Phan Bội Châu lấy hiệu là Sào Nam. Con cháu Lạc Hồng dù ở đâu cũng hướng lòng về Tổ quốc.

Mới đây nhất là câu đối thờ Khúc Thừa Dụ, ông viết: Thời thế tạo doanh hư, thất cước anh hùng ta suyễn vận/ Giang sơn hàm sấn tiếu, tham công thủ bại khấp tàn nhi. Nghĩa là: Thời thế vơi đầy, tiếc rằng anh hùng sa chân nên lỡ bước, nói đến sự nghiệp anh hùng của họ Khúc, dù không may bị lỡ bước, nhưng “Luận anh hùng không kể được thua” ; vế sau, “Giang sơn cười mỉm nụ, tham công cha bại khóc con tàn”, theo ý Đại cáo bình Ngô “Lưu Cung tham công nên thất bại”. Lưu Cung thắng họ Khúc nhưng cũng lại chuốc lấy thất bại chua cay, Hoằng Thao cũng mất mạng…

**
Trở lại tấm biển đề ba chữ Nguyễn Văn Bách ở cửa tôi hỏi: Sao bác không đề là Nhà thư pháp hay Lương y ạ? Ông bảo: Đề làm gì, mình lại tự nhận mình là lương y, rồi nhà nọ nhà kia sao?! Ông là thầy thuốc, chuyên viên 6 của Viện Đông y, cuốn sách “ Thuốc hay tay đảm” của ông đã tái bản liên tục đến mấy chục lần mà ông vẫn không muốn nhận là “lương y” mà tự nhận mình là người ngốc nghếch. Bút hiệu Lỗ Công, nghĩa là người đần vậy. Ông tự trào : “Hỏi sách đọc chưa thông sách/ Hỏi cày chẳng biết chi cày/ Hỏi thuốc thuốc làm không giỏi/ Hỏi thơ thơ vịnh không hay/ Thế kém, tài hèn, đức mọn/ Mừng không đói rách là may“…

Ở phòng khách, ông treo đôi cấu đối thể hiện chí mình: “Thê tức hữu chi nhàn tích lậu/ Danh linh phi tướng tại cao thâmCó một cành nhỏ để đậu là an nhàn rồi/ Danh linh đâu cốt ở bề ngoài“. Câu này khiến người ta nhớ đến bài phú của Lưu Vũ Tích có câu: “Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh. Thuỷ bất tại thâm, hữu long tắc linh” – Núi chắc cốt ở độ cao, có tiên ở là nổi tiếng/ Nước đâu cốt ở độ sâu, có rồng ở thì ắt thiêng. Phẩm chất đâu cốt ở hình dung sắc tướng bề ngoài”.

Thăng Long – Hà Nội đang khoe sắc, nhưng cái cốt cách văn hóa, bề dày tinh thần ẩn chứa sau nó, ở trong mỗi nhà, mỗi người mới là những giá trị lâu bền… Ý tứ đó của một người Hà Nội ngót 90 niên quả là sâu sắc và cũng rất hiện đại nữa…

Nguyễn Phan Khiêm (Tạp chí Pháp lý)

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 6.3/10 (3 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +3 (from 3 votes)
Ông đồ Nguyễn Văn Bách và những chuyện đời thâm thuý, 6.3 out of 10 based on 3 ratings
NGƯỜI ĐĂNG
Admin: Nếu quý vị muốn đăng tải, chia sẻ bài viết, tài liệu, hình ảnh xin vui lòng gửi về bbt@thuhoavietnam.com hoặc viết bài trên Diễn đàn
 
  • luhanh1286@gmail.com says:

    nếu cụ mất rồi, ta còn ai được như cụ

    VA:F [1.9.22_1171]
    Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
    VA:F [1.9.22_1171]
    Rating: 0 (from 0 votes)
    Trả lời
Viết phản hồi