Bảo tồn nghề làm giấy Sắc phong và giấy Dó

 
Đăng bởi: 26 December 2008
views  2,386 lượt xem
CHIA SẺ:

Thăng Long – Hà Nội, nơi hội tụ kết tinh tỏa sáng các ngành nghề thủ công truyền thống của cả nước. Trải qua ngàn năm giữ gìn, xây dựng và phát triển với những làng nghề, phốnghề và những ngành nghề thủ công truyền thống, Thăng Long – Hà Nội ngày càng thể hiện một diện mạo, tiềm năng phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, nhiều ngành nghề, làng nghề thủ công hiện nay đã bị mai một,  mất dần theo thời gian – trong đó có nghề làm giấy sắc phong (làng Nghĩa Đô), nghề làm giấy dó (Bưởi) vốn nổi tiếng một thời trên đất kinh kỳ. Điều đó đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải bảo tồn một truyền thống, một tinh hoa nghề của Thủ đô ngàn năm văn hiến.

Giấy Sắc phong

Để làm được những tờ giấy dó người thợ Yên Thái, Hồ Khẩu, Nghĩa Đô, vùng Bưởi phải có tay nghề thuần thục cùng những bí quyết nhiều đời truyền lại. Công việc của họ thật cực nhọc trăm phần. Nguyên liệu chính để làm giấy là vỏ dó tươi, người thợ phải lặn lội đi dọc sông Thao lên tận phố Ẻn để mua. Vì vậy mà có câu ca dao:

Ai ơi mua Dó khó lòng
Không đi bên Ẻn thì mong nỗi gì.

Vỏ dó tươi đem về ngâm nước lã một ngày, sau đó vớt lên ngâm vào nước vôi loãng hai ngày, rồi cho vào vạc nấu cách thủy liền 4 ngày và làm tiếp các công đoạn khác. Xưa kia làng Yên Thái thường đắp lò nấu dó ngay bên bờ sông Tô, vì địa thế này thuận tiện cả cho việc ngâm, dặm và đãi vỏ dó. Cũng ở đây có một cái giếng làng, dân vừa lấy nước để ăn lại vừa lấy nước để sản xuất. Cứ vào dịp tháng 3 âm lịch hàng năm, dân làng lại nạo vét giếng cho nước thêm sạch, thêm trong:

Ai ơi đứng lại mà trông
Kìa vạc nấu dó, kìa sông đãi bìa
Kìa giếng Yên Thái như kia
Giếng sâu chín trượng nước thì trong xanh

Qua khảo sát ở phường Nghĩa Đô và lời kể của các cụ trong dòng họ Lại cho thấy: họ Lại làng Nghĩa Đô khởi nghiệp làm giấy sắc từ thời Lê-Trịnh, rồi phát triển mãi đến hiện nay trong suốt mấy trăm năm. Có lẽ trước đó, ở nước ta đã làm được loại giấy đặc biệt này rồi, nhưng sản xuất ở đâu thì chưa nghiên cứu được. Các cụ ở đây cho biết, làm giấy dó đã công phu, làm giấy sắc còn công phu hơn nhiều. Giấy sắc dùng để phong sắc cho hàng nhất phẩm (phẩm trật hàng đầu) phải có 5 thợ cùng làm một lúc mới xeo nổi 1 tờ. Giấy để phong sắc cho hàng phẩm trật thấp hơn (từ nhị phẩm xuống cửu phẩm), khổ giấy hẹp, cũng phải 3 người thợ làm 1 tờ. Khâu tinh xảo đòi hỏi tay nghề rất cao là phần vẽ rồng trên giấy sắc – đây là công đoạn cuối cùng, khó nhất, cầu kỳ nhất và cũng là nghệ thuật nhất. Những người thợ giỏi như các cụ Tám Hoàn, cụ Sáu Tơ, cụ Xã Lịch thì vẽ “chạy”. Những thợ kém hơn thì chỉ vẽ “đồ”, tức là cứ theo nét “chạy” mà tô kim nhũ, vàng, bạc.

Ngoài những công đoạn cơ bản như sản xuất các loại giấy dó khác – giấy sắc có thêm một số công đoạn kỳ công, phức tạp mà các loại giấy dó thông thường không phải làm như bôi keo, nhuộm và làm “nghè”. Bôi keo là làm cho giấy thêm dai, không hút ẩm và chống mối mọt. Nhuộm là để co giấy có màu sắc đặc trưng. Thường người ta nhuộm giấy bằng bột hoa hòe giã nhỏ. Khi nhuộm phải nhuộm cả hai mặt thì giấy mới có màu vàng bóng và dày dặn. “Nghè” là công đoạn làm cho giấy mỏng hơn và dai hơn. Nghè tức là dùng vổ chày giã, đập lên một chồng, một xếp giấy khoảng 4-5 tờ trên một đe đá. Khi nghè nghe tiếng chày giã đanh, giấy đã mỏng và bóng là được, thợ Nghè phải có sức khỏe và khéo léo. Những người có kinh nghiệm mới được đảm nhiệm công việc này.

Nghệ nhân làm giấy sắc luôn giữ bí quyết kỹ thuật “đánh vàng, đánh bạc”. Dụng cụ đánh vàng bạc là chầy và những cái bát cực lớn. Để giữ bí mật nghề nghiệp, các cụ thường làm công việc này ở nơi kín đáo nhất trong nhà, nhằm tránh người ngoài học lỏm. Chẳng hạn nhà cụ Tám Hoàn có bàn thờ lớn, gần bàn thờ bố trí một diện tích khá rộng, đây là nơi cụ chuyên làm công việc đánh vàng, đánh bạc hết sức bí mật này. Đáng tiếc là cụ Tám Hoàn đã mất từ lâu mà dường như sinh thời cũng chưa truyền lại nghề cho ai, kể cả con cháu của cụ – ở đó hiện còn một tảng đá xanh, mặt rất phẳng, rộng khoảng 60x80cm, xưa dùng để “nghè” giấy. Đấy là kỷ vật duy nhất của cụ Tám còn để lại, các dụng cụ đánh vàng, bạc của nghệ nhân này đã mất cả.

Cũng theo các cụ trong dòng họ Lại kể: Tại Nghĩa Đô trước đây không chỉ có một người, một nhà làm. Dưới triều Nguyễn – vào thời vua Khải Định – có năm Nhà nước đặt thợ Nghĩa Đô làm hàng vạn tờ giấy sắc. Năm 1925, vua Khải Định làm lễ “Tứ tuần đại khánh” dùng giấy sắc phong tước cho bách quan, bách thần nên năm đó làng Nghĩa Đô làm nhiều giấy sắc nhất. Giá giấy sắc rất cao, mỗi tờ giấy sắc thời đó là một đồng bạc Đông Dương (tương đương một lượng vàng), bởi giấy sắc làm rất khó nguyên vật liệu để trang trí đều là vàng, bạc nguyên chất. Họ Lại ở đây có nhiều gia đình làm giấy sắc như: nhà cụ Xã Vi, cụ Phó Nhiệm, cụ Trương Lại, cụ Trương Xứ, cụ Xã Lịch, cụ Phó Nhiên, cụ Bếp Kiệm.

Nói về giấy sắc Nghĩa Đô, dân gian Hà Nội còn lưu truyền những câu ca đầy tự hào:

Họ Lại làm giấy sắc vua
Làng Láng kéo cờ mở hội hùng ghê!
Tiếng đồn con gái Nghĩa Đô
Quanh năm làm giấy cho vua được nhờ.

Bây giờ tới Nghĩa Đô, dấu tích nghề giấy sắc còn lại chẳng là bao. Những thợ giỏi hầu hết qua đời. Chi họ Lại đông người hơn ngày xưa gấp nhiều lần mà chỉ còn lại hai người biết làm giấy sắc: Cụ Lại Thị Phương thợ xeo và cụ Lại Phú Bàn thợ vẽ, các cụ tuổi đều đã cao (trên dưới 80 tuổi).

Làng nghề sản xuất giấy dó, giấy sắc truyền thống ở nước ta nói chung, Hà Nội nói riêng đã có một bề dày lịch sử. Giấy dó, giấy sắc với các chỉ tiêu chất lượng đặc biệt mà các loại giấy thông thường khác không có được, là một sản phẩm mang đậm dấu ấn văn hóa Việt Nam. Sự ra đời, phát triển và hoàn thiện của nghề  làm giấy dó, giấy sắc gắn bó mật thiết với dân tộc, với Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến, thể hiện sinh động khả năng lao động sáng tạo, đức tính cần cù chịu khó của nhiều thế hệ nghệ nhân, thợ thủ công làng nghề thủ công truyền thống.

Các làng nghề truyền thống đã được Đảng và Nhà nước ta ghi nhận là một trong những di sản quan trọng cấu thành nên nền văn hóa Việt Nam.

Bảo tồn làng nghề sản xuất giấy dó, giấy sắc phong với những công cụ sản xuất thủ công tinh xảo, với một công nghệ đặc biệt đầy sức sáng tạo là một sự cần thiết khách quan phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước.

Giấy dó, giấy sắc phong còn là một sản phẩm đặc trưng một thời của người “Kẻ Chợ” gắn bó mật thiết với lịch sử hình thành và phát triển của Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến. Làng nghề giấy dó, giấy sắc phong truyền thống ở Bưởi và Nghĩa Đô đã cung cấp đầy đủ nhu cầu các loại sản phẩm giấy cho xã hội trong suốt cả một thời gian dài của lịch sử. Chiếu dời đô của vua Lý Công Uẩn đã được viết trên nền giấy dó. Tiếng chày giã dó ở làng Yên Thái còn vọng mãi trong tiềm thức của nhiều lớp người Hà Nội, chắc hẳn không thể chỉ là những kỷ niệm để người ta nhớ về như những phút hoài cổ đầy luyến tiếc. Tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, cùng với tiếng cồng, tiếng chiêng, với thuyền rồng, tiếng chày giã dó của một làng nghề truyền thống ngay giữa lòng Thủ đô sẽ là khúc nhạc đầy ấn tượng.

Trần Đức Thăng
Phó Chủ tịch Liên minh HTX Hà Nội
(Tạp chí Thăng Long Hà Nội ngàn năm – Số13/2003)

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: -1 (from 1 vote)
NGƯỜI ĐĂNG
Admin: Nếu quý vị muốn đăng tải, chia sẻ bài viết, tài liệu, hình ảnh xin vui lòng gửi về bbt@thuhoavietnam.com hoặc viết bài trên Diễn đàn
 
Viết phản hồi