Giấy Dó

 
Đăng bởi: 28 October 2008
views  2,011 lượt xem
CHIA SẺ:

Chất liệu giấy DóNghề giấy thủ công của người Việt Nam chúng ta, cha truyền con nối, từ đời này sang đời khác đến nay vẫn còn đó. Giấy dó, giấy bản vẫn còn được làm ra bởi nó còn rất cần cho xã hội hiện nay và sau này. Nhưng nhu cầu và mục đích sử dụng giấy ta, giấy thủ công mỗi thời kì một khác – điều đó quyết định mức độ, quy mô dùng để viết, để vẽ, để in sách, in tranh. Nay các loại giấy này chủ yếu chỉ dùng trong sinh hoạt, như ăn uống ở khách sạn, nhà hàng, cho việc làm vàng mã, xuất khẩu.. Việc in sách, ghi chép, học hành hầu như chỉ sử dụng giấy công nghiệp các loại.

Công việc làm giấy thủ công cổ truyền khá vất vả, công phu vì công cụ và phương tiện sản xuất đơn giản, dùng đôi tay và sức người là chính. Vật liệu cho sản xuất hầu hết được khai thác cây lá mọc tự nhiên. Nhưng giấy sản phẩm, làm thủ công với kỹ thuật lâu đời và óc sáng tạo của người thợ, về mặt nào đó đã không thua kém giấy hiện đại, thậm chí bằng công nghệ mới không thể làm được những loại giấy có đặc tính xốp nhẹ, bền dai như thế.

Mặc ai buôn vạn bán ngàn
Em nay làm giấy cơ hàn vẫn vui,
Dám xin ai đó chớ cười,
Vì em làm giấy cho người chép thơ.
(Ca dao)

I. Lịch sử nghề làm giấy:

Trước khi làm ra giấy, từ thời cổ, người Việt cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới, đã dùng các loại vật liệu khác để ghi chép: Khắc trên đồng, trên đá, trên mai rùa, xương thú, trên đất sét, đất nung, viết trên tre, nứa, trúc, trên lá cọ, trên lụa,..v.v. Những loại “sách vở” ấy đến nay còn lại khá nhiều ở nước ta, không chỉ của người Việt mà của các dân tộc thiểu số (Thái, Mường, Tày-Nùng, Chăm, Khơ me..) Các nhà khảo cổ, các nhà dân tộc gần đây còn phát hiện được sách đồng ở Hà Nội, Hà Tây, Nam Hà và sách đá ở Thanh Hoá dưới hình thức và nội dung thực sự là những cuốn sách, có trang sách và đóng gáy hẳn hoi.

Tuy vậy, không phải tất cả các “sách” cổ dạng ấy đều được làm trước khi có giấy. Các bạn có thể tham khảo các sách “Văn khắc Hán Nôm”, “di sản Hán Nôm” của Viện nghiên cứu Hán Nôm, do nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1993 sẽ thấy rõ thời gian xuất hiện nhiều văn khắc Hán Nôm trên vật cổ: bia đá, chuông đồng, hoành phi, câu đối gỗ sơn khảm của nước ta qua nhiều triều đại.

Trở lại nghề giấy, chúng ta hãy lưu ý đến những ghi chép trong sử sách: Theo các tài liệu của Trung Quốc và Việt Nam viết từ xa xưa thì nghề giấy cổ ở nước ta có thể ra đời từ thế kỉ thứ III sau công nguyên.

Sách “Nam phương thảo mộc trạng” của Kế Hàm, một học giả Trung Quốc (đầu thứ kỉ thứ IV) trong phần nói về sản vật ở quyển trung và sách “Thập dị ký” của Vương Gia (Trung Quốc, cuối thế kỉ IV) có nói: Từ thế kỉ thứ III (sau công nguyên) người Việt đã làm được các loại giấy từ gỗ cây trầm, cây mật hương, từ rong bể…

Các loại giấy ấy, ngày nay ta không còn thấy nữa. Song các ghi chép của Kế Hàm và Vương Gia đã chứng tỏ nghề giấy cổ truyền Việt Nam đã có từ lâu đời.

Hơn nữa trong sách nói trên, Kế Hàm còn ghi chép rất cụ thể: Thứ giấy trầm đó của người Giao Chỉ (tức người Việt) có màu trắng, vân như vẩy cá, mùi thơm, bền dai – bỏ xuống nước cung không nát.

Sau này học giả Trung Quốc Trần Tu Hoà, trong cuốn sách “Trung – Việt lưỡng quốc nhân dân đích hữu hảo quan hệ văn hoá giao lưu” (Xuất bản tại Bắc Kinh năm 1957) cũng nhắc đến sự kiện ấy: Vào thế kỷ thứ III (sau công nguyên) người Việt Nam đã dùng gỗ mật hương làm ra thứ giấy bản rất tốt, gọi là giấy mật hương. Một tài liệu khác của nước ngoài cũng cho biết, các thương nhân La Mã đã mua được hàng vạn tờ giấy mật hương của Việt Nam vào năm 284.

Theo Vương Gia, giấy của người Việt Nam làm bằng rong biển gọi là giấy trắc lý.

Những ghi chép về giấy của ta thời thượng cổ, do người Việt viết thì đến nay vẫn chưa tìm thấy trong vốn sách sử cổ còn sót lại của nước nhà. Biết đâu đã có người Việt Nam thời ấy ghi chép về giấy như các học giả Trung Quốc, thậm chí rõ ràng hơn, nhưng qua những thăng trầm lịch sử và chính sách đồng hoá của ngoại bang mà bị mất, bị huỷ đi chăng?

Ở Trung Quốc, giấy ra đời vào thời nhà Hán. Đó là một sự kiện lịch sử và thành tựu khoa học kỹ thuật quan trọng. Sách “Thiên tự Văn” của Trung Quốc viết rằng: Thái Luân là chức Trung Tư thị đã sáng chế ra giấy, bằng cách dùng vỏ cây có xơ, gọi là ma chỉ, dùng vải cũ, lưới đánh cá cũ giã ra làm giấy gọi là võng chỉ, dùng cây dó làm giấy gọi là cốc chỉ. Thái Luân làm quan và chế ra giấy vào đời vua Hoà Đế nhà Hán (Khoảng cuối thế kỉ thứ I – Đầu thế kỉ thứ II sau công nguyên)

So sánh các niên đại nói trên do các thư tịch cổ còn ghi lại được, có thể thấy rằng nghề làm giấy ở nước ta đã xuất hiện rất sơm, có lẽ chỉ sau một thời gian lịch sử không đáng kẻ so với nghề giấy Trung Quốc. Bởi vì, từ đầu thế kỉ thứ III sau công nguyên, người Việt đã làm ra những loại giấy quý, hình thức và chất lượng bền đẹp, có mùi thơm, đòi hỏi kỹ thuật sản xuất khá phức tạp.

Những thứ giấy ấy chắc chắn không thể là loại giấy đầu tiên do người Việt Nam chế tạo ra. Những tờ giấy thô hẳn phải ra đời trước đó và có thể vào thế kỉ I-II (Sau công nguyên) thợ thủ công của ta đã làm được giấy rồi.
Trong quá trình lịch sử, trên lĩnh vực sản xuất giấy, thợ thủ công Việt Nam đã tỏ ra hết sức tài khéo. Họ làm ra nhiều loại giấy, trong đó có một số loại giấy quý, rất đẹp và qua thử thách của thời gian, khí hậu, đã tỏ ra vô cùng bền. Do đó, ngay từ thời vua Lý Cao Tông (1176-1210) một số loại giấy tốt của ta đã thuộc vào hàng đặc sản cống phẩm cho nhà Tống cũng như vàng, bạc, lụa, ngà voi, sừng tê… quý giá.

Khoảng cuối đời nhà Lý đến đầu đời nhà Trần, tức là vào khoảng cuối thế kỉ XII đến đầu thế kỷ XIII, mới thấy có tài liệu lịch sử (Đại Việt sử lược, quyển III) ghi lại rằng: “Ở phía Tây của kinh đô Thăng Long, có một xóm thợ thủ công chuyên về làm giấy. Đó là phường giấy làng Dịch Vọng. Gần đấy có Cầu Giấy.”

Cầu Giấy xưa kia làm bằng gỗ, nay đã thay bằng cầu bê tông, bắc qua sông Tô Lịch. Theo các cụ già ở vùng này thì từ thời Lý, ở làng Dịch Vọng đã có nhiều gia đình làm nghề giấy. Dân làng đi lại hàng ngày qua cầu trên dòng sông Tô Lịch, có lẽ để ghi lại niềm tự hào về nghề quý của quê mình, đã đặt tên là Cầu Giấy. Đến nay tên Cầu Giấy vẫn còn, không chỉ gọi chiếc cầu trên tuyến đường Hà Nội đi Mai Dịch, Cầu Giấy đến Nhổn (Hà Tây) mà còn là một phường của huyện Từ Liêm, phường Cầu Giấy.

Đến thế kỷ thứ XV, một phường làm giấy khác nổi lên, phồn thịnh hơn cả phường giấy Dịch Vọng, đó là phường giấy Yên Thái (làng Bưởi, bên Hồ Tây, Hà Nội). Trong sách “Dư địa chí” trong “Nguyễn Trãi toàn tập” của Nguyễn Trãi có nói đến làng giấy này.

Nhà bác học Việt Nam Lê Quý Đôn, ở thế kỷ XVIII, trong bộ sách bách khoa “Vân đài loại ngữ” của ông đã có khảo cứu về nghề làm giấy ở nước ta. Ông cho biết, nhân dân biết dùng vỏ cây dó, vỏ cây thượng lục (còn gọi là cây niết) để làm giấy. Theo ông, cây đó dễ trồng, mau lớn, chỉ sau hai năm đã lấy được khá nhiều vỏ. Bấy giờ, các trấn Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn – thuộc vùng thượng du và trung du Bắc Bộ – đã trồng nhiêu cây dó để làm giẫy. Còn cây thượng ục thì hiếm hơn, vỏ cây này để chế loại giấy đặc biệt, bền dai, trắng sáng – “thực là hạng giấy tốt nhất” như lời Lê Quý Đôn nhận xét.

Như vậy, nghề làm giấy ở nước ta có lịch sửu lâu đời và đến đầu thế kỉ XVIII thì đã phát triển khá rộng rãi ở nhiều địa phương. Sản lượng giấy lúc này đạt mức đủ đảm bảo để in được nhiều sách “bằng giấy nội hoá”. Chúa Trịnh Giang đã sai khắc in các bộ sách Tứ thư, Ngũ kinh bằng giấy trong nước năm Giáp Dần (1734) đời Lê Nhuận Tông. Ông cũng xuống lệnh cho sĩ tử và dân gian phải mua sách trong nước, không được mua sách của phương Bắc.

Trong thế kỉ XIX, giấy thủ công của ta sản xuất càng nhiều hơn trước, đến nỗi nhà Nguyễn phải quy định mức thuế bằng hiện vật đối với các làng nghề giấy. Cụ thể là: Các làng Yên Thái, Hồ Khẩu.. hàng năm phải nộp cho triều đình 5.500 tờ giấy các loại/mỗi một đầu dân.

Xét thấy mức thuế như vậy quá nặng, vua Tự Đức có cho giảm mức thuế xuống chút ít. Nhưng mỗi người dân các làng nghề giấy vẫn phải nộp thuế ở mức: 4.800 tờ giấy trong 1 năm (trong đó: 3000 tờ giấy thị, 1500 tờ giấy lệnh, 200 tờ giấy rộng khổ hạng nhì và 100 tờ giấy hội hạng nhất).
II. Giấy dó – Đặc tính và ứng dụng của nó:

Giấy dó làm từ vỏ cây dó. Người ta tạo ra giấy từ bột xơ của vỏ dó, thông qua công nghệ thủ công truyền thống khá phức tạp. Chính nguyên liệu và công nghệ sản xuất này đã tạo nên đặc tính của giấy dó.

1) Khác với công nghệ làm giấy hiện đại chỉ lấy thân cây (bạch đàn, thông, keo..) làm nguyên liệu sản xuất giấy, còn vỏ thì loại bỏ, công nghệ truyền thống giấy dó chỉ lấy vỏ cây dó làm nguyên liệu, còn thân cây (ruột) thì không dùng được. Vỏ dó được ngâm, đãi, nấu và giã để lấy bột xơ xeo giấy.

  • Xơ đó là một loại xen-lu-lô sau khi giã, nó tạo thành mạng sợi như hình mạng nhện. Sợi xơ dó rất mềm, dai và không đặc – các “mao quản” sợi dó kết cấu ở dạng ống. Để tạo ra một loại giấy có đặc tính dai và xốp, thợ thủ công Việt Nam đã không nghiền bột dó mà duy trì phương pháp giã dó rất độc đáo.
  • Nghiên cứu về giấy dó, các nhà khoa học và kỹ thuật công nghiệp giấy đã thấy rõ sự khác biệt giữa các nguyên liệu dó và nguyên liệu gỗ. Nguyên liệu dó được sử dụng ở dạng sunfit senlulo không tác dụng kiềm. Còn loại giấy hiện đại người ta chọn một số loại cây lá hình kim thân gỗ có xơ mềm, nhẹ làm bột giấy, thông qua việc xử lý ở dạng sunfat senlulo, tác dụng kiềm. Vì không nắm được đặc trưng cơ bản và quan trọng của giấy dó, một số nhà sản xuất giấy ở phía Nam sau 1975 đã thấy bại khi sản xuất giấy dó, do đem nghiền bột vỏ đó.

2) Giấy dó xốp nhẹ, bền dai, dễ cắn màu, mực, không nhoè khi viết, vẽ, in. Hơn nữa giấy dó ít bị mối bọt, ít bị giòn gãy, ẩm nát như nhiều loại giấy hiện đại. Do đó, giấy dó đã được sử dụng từ lâu đời và rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực hoạt động ở nước ta.

  • Trước đây, khi chưa có giấy hiện đại, giấy dó thủ công được dùng để viết và in sách, cũng như để ghi chép các văn kiện nhà nước, để đi học, đi thi. Hầu hết sách cổ, sách Hán – Nôm đều được in trên các loại giấy dó. Nhờ có giấy dó, với đặc tính quý của nó, mà ngày nay chúng ta còn kế thừa được kho tàng di sản lịch sử văn hoá thành văn vô giá, đồ sộ, phong phú của dân tộc.
  • Giấy dó là nguyên vật liệu chủ yếu để làm tranh giân dan. Các dòng tranh, cũng là những trung tâm sản xuất tranh dân gian lớn ở Việt Nam- Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng – với vô số tác phẩm nổi tiếng, hầu hết đều in trên giấy dó. Giấy dó, giấy điệp (giấy dó được quét hồ điệp) là nguyên vật liệu thích hợp nhất để in, vẽ tranh dân gian Việt Nam.
  • Trong các làng nghề đúc đồng thủ công, làng nghề nặn tượng Phật, cac nghệ nhân thường sử dụng rất nhiều giấy dó. Người ta trộn giấy dó ngâm nước với đất sét, đất bùn ao luyện kỹ, với trấu, vôi sống để làm cốt tượng, rồi sơn son thếp vàng bên ngoài, hay để làm khuôn đúc tượng đồng, chuông đồng,..v..v. Để đúc pho tượng Phật Di Đà của chùa Ngũ Xã (tức chùa Thần Quang), nghệ nhân đúc đồng Ngũ Xã đã dùng tới 70 tấn nguyên liệu gồm giấy bản và đất, trấu để tạo khuôn, gồm khuôn trong và khuôn ngoài, tiến hành công việc suốt 3 năm đúc trong 3 giờ liền, sản phẩm tượng đồng nguyên khối nặng tới 11 tấn 300 kg. Khuôn ấy phải chịu lực rất lớn. Vai trò của giấy dó tạo khuôn đúc quả là to lớn.
  • Độ bền dai của giấy dó đạt tới mức phi thường trong công nghệ sản xuất vàng quỳ. Vàng quỳ được sản xuất ở làng Kiêu Kỵ, Gia Lâm (Hà Nội). Người ta dát vàng thoi thành vàng lá dày 1-2 mm. Lá vàng được cắt thành từng miếng nhỏ, khoảng 1 cm2. Dùng giấy dó bọc lớp vàng, mỗi lớp vàng một lớp giấy. Rồi dùng búa sắt nhỏ đập đều đều, liên tục lên tập giấy dó trên chiếc đe phẳng, cho đến khi các miếng vàng lá bị dát mỏng tới mức biến thành lớp vàng quỳ (Lớp bột vàng mịn, cực mỏng), một nguyên liệu quý giá cho việc thếp vàng trên các sản phẩm sơn son (tượng Phật, câu đối, hoành phi, ngai thờ, kiệu..v..v). Những người thợ sơn thếp các sản phẩm quý giá này bao giờ cũng sử dụng nguyên vật liệu vàng quỳ hay bạc quỳ này. Sơn lúc còn ướt, chưa ủ khô, người ta thổi bụi vàng, bạc quỳ vào để thếp màu tươi sáng, rực rỡ. Điều đáng nói ở đây là giấy dó bọc lót quỳ không hề bị rách nát.
  • Năm 1969 giấy dó được nghiên cứu ứng dụng vào lĩnh vực âm học tại Việt Nam. Người ta dùng một tỷ lệ nhất định giấy dó làm nguyên liệu cho hợp chất sản xuất màng loa chất lượng cao. Kết quả quan trọng này sau khi đem thử nghiệm tại Tiệp Khắc, Hungari… đã được các chuyên gia đánh giá đạt tiêu chuẩn quốc tế.
  • Giấy dó Việt Nam đã xuất khẩu sang Pháp và một số nước khác. Tại Pháp, học sĩ Pháp đã sử dụng giấy dó Yên Thái (hay giấy dó làng Bưởi) khổ lớn, để làm giấy nhung vẽ “Pátẽ” hoặc vẽ tranh bằng mực tàu theo lối tranh Phương Đông cổ điển. Những sản phẩm nghệ thuật ấy bán rất chạy ở Châu Âu.
  • Gần đây các bảo tàng ở Châu Âu đã nhận ra khả năng chống ẩm rất cao của giấy dó. Những bức tranh quý giá nếu được lót một tấm giấy dó bồi dày ở khung tranh được kéo dài và không ố vàng.
  • Người Việt Nam đã từ lâu đã sử dụng giấy dó làm nguyên liệu sản xuất nhiều loại hàng thủ công truyền thống khác: làm ngòi pháo, bồi dán đồ chơi Trung Thu, làm đồ vàng mã… Làm ngòi pháo vì giấy dó cháy đượm. Làm đồ chơi vì giấy dó bền dai, xốp nhẹ, trắng sáng dưới ánh đèn, nến tạo sáng mờ ảo. Làm vàng mã vì giấy dó có ưu điểm là dễ nhuộm màu, cắn hồ, xốp nhẹ, đẹp, khi đốt (hóa) thì cháy nhanh và cháy kiệt. Đặc tính này quan trọng và cần thiết, rất thích ứng với quan niệm dân gian.

Các làng nghề giấy Việt Nam:

  • Giấy sắc Nghĩa Đô (giấy sắc là loại giấy đặc biệt, chỉ chọn toàn dó lụa (loại dó hảo hạng), tạo màu vàng từ hoa hoè. Mặt trước vẽ rồng, mây. Xung quanh tờ giấy viền Truyền chỉ, hay đóng triện tiền. Mặt sau vẽ Tứ linh (Long, Ly, Quy Phụng) với 1 bầu túi thơ. Nguyên liệu dùng để vẽ lên mặt giấy là vàng, bạc và kim nhũ. Giấy sắc vì thế rất quý, hình thức và màu sắc rất đẹp, lai lưu giữ được bền lâu.
  • Làng giấy Yên Thái (hay còn gọi là làng Bưởi ở phía Tây Bắc của Hà Nội)
  • Làng giấy Phong Khê.
  • Làng An Cốc ở Hà Tây.

Thạc Sĩ Bùi Văn Vượng
Trích “Di Sản Thủ Công Mỹ Nghệ Việt Nam”

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
Giấy Dó, 10.0 out of 10 based on 1 rating
NGƯỜI ĐĂNG
Admin: Nếu quý vị muốn đăng tải, chia sẻ bài viết, tài liệu, hình ảnh xin vui lòng gửi về bbt@thuhoavietnam.com hoặc viết bài trên Diễn đàn
 
Viết phản hồi