Thơ chữ Hán viết về Thăng Long – Hà Nội

 
Đăng bởi: 21 December 2009
views  1,316 lượt xem
CHIA SẺ:

Huyền Quang (1254-1334)

Tên thật là Lý Đạo Tái, người làng Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lang Giang (nay là huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Giang). Năm 19 tuổi, ông đỗ khoa tam giáo đời Trần, rồi về đi tu ở chùa Quỳnh Lâm (Hải Dương). Năm 1330, sư Pháp Loa đem y bát của Điều ngự giác hoàng (tức vua Trần Nhân Tông) truyền cho, giao lại cho Huyền Quang trước khi mất. Huyền Quang lên tu ở núi Yên Tử và là tổ thứ ba của phái Trúc Lâm.

Diên Hựu tự[1]

Thượng phương thu dạ nhất chung lan,
Nguyệt sắc như ba phong thu đan
Si vẫn đảo miên phương kính lãnh[2],
tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn
Vạn duyên bất nhiễm thành già tục
Bán điểm vô ưu nhãn giới khoan.
Tham thấu thị phi bình đẳng tướng,[3]
Ma cung Phật quốc hảo sinh quan.

Dịch: Chùa Diên Hựu

Đêm thu một tiếng chuông tàn,
ánh trăng như sóng lá bàng nhuộm son.
Chim thú ngủ ngược gương vuông,
Tháp vươn đôi búp tay thon lạnh ngời
Thành che bụi tục nhiễm đời,
Không lo, tầm mắt con người rộng ra.
Coi thị phi ngang bậc mà
Cung ma nước Phật khéo là tương quan.

Phạm Sư Mạnh (khoảng 1300-1360)

Người làng Hiệp Thạch, huyện Hiệp Sơn (nay thuộc tỉnh Hải Dương) học trò Chu An. Đậu Thái học sinh trong khoảng đời Trần Minh Tông. Năm 1323 bắt đầu vào triều. 1345 được cử làm sứ giả đi biện luận với nhà Nguyên về chuyện “Cột đồng”. 1346 giữ chức Chưởng bạ thư kiêm khu mật tham chính. 12 năm sau được thăng đến chức nhập nội hành khiển trí khu mật viện sự.

Đề Báo Thiên tháp[4]

Trấn áp đông tây củng đế kỷ,
Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy.
Sơn hà bất động kình thiên trụ,
Kim cổ nan ma lập địa chuỳ.
Phong bãi chung linh thời ứng đáp,
Tinh di đăng chúc dạ quang huy.
Ngã lai dục thử đề danh bút,
Quản lĩnh xuân giang tác nghiễn trì.

Dịch: Đề tháp Báo Thiên

Trấn đông tây, giữ đế kinh,
Cao cao ngọn tháp vươn mình lên không.
Cốt chống trời vững non sông,
Chày dựng đất mãi mãi không tiêu mòn.
Gió xao hoạ tiếng chuông hồn,
Sao dời, đèn đuốc đêm luôn rực hồng
Qua đây hứng bút đang nồng.
Chiếm sông xuân hoá nên lòng nghiên thơ.

Nguyễn Phi Khanh (1355-1428)

Tên thật Nguyễn ứng Long, vốn người xã Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc tỉnh Hải Dương) sau dời về xã Ngọc ổi, (nay là xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội). Đậu thái học sinh (tiến sĩ) năm 1374 nhưng không được bổ dụng. Mãi sau khi nhà Hồ lên thay nhà Trần mới được cử làm Học sĩ Viện Hàn lâm rồi lần lượt thăng lên Thông chương đại phu, Tư nghiệp trường Quốc tử giám. Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Minh (1406-1407) cùng với vua tôi nhà Hồ, Nguyễn Phi Khanh bị giặc bắt đem về Kim Lăng. Hai con ông Nguyễn Trãi và Nguyễn Phi Hùng định đi theo phụng dưỡng cha, ông khuyên Nguyễn Trãi trở về phục thù và báo hiếu cho cha bằng con đường cứu nước.

Thu thành vãn vọng

Mộc lạc đô thành cửu nguyệt thiên,
Tà dương trao địa tiệt vấn yên.
Ly hồng viễn viễn nghinh phong trận,
Khích nguyệt quyên quyên cách thụ huyền
Ngâm hứng tứ thời thu dị cảm
Nhân sinh vạn sự lão kham liên
Binh qua huống phục điêu tàn hậu,
Dao vọng tình mân nhất khái nhiên.

Dịch: Trên thành ngắm cảnh chiều thu

Kinh thành tháng chín lá rơi,
Bóng tà chụp đất tơi bời khói mây
Chim hồng đón gió trận bày,
Trăng treo khe cửa xuyên cây cách hàng
Thu dễ cảm, hứng ngâm tràn
ở đời muôn việc, đáng than tuổi già.
Huống điêu tàn sau can qua,
Nhìn trời quang tạnh bao la, ngậm ngùi.

Nguyễn Trãi (1380-1442)

Người xã Ngọc ổi (nay là xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội) nhưng sinh ở Thăng Long trong dinh của ông ngoại là Tư đồ Trần Nguyên Đán. Năm 1400 đỗ Thái học sinh dưới triều Hồ được trao chức Ngự sử đài chánh chưởng. Nguyễn Trãi tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh xâm lược, được trao chức nhập nội hành khiển kiêm Lại bộ thượng thư, quản công việc ở Viện khu mật. Sau khi kháng chiến thành công, được ban họ vua và được ban tước Quan phục hầu. Năm 1442, do vụ án oan Lệ Chi Viên, bị tru di tam tộc. Năm 1464, Lê Thánh Tông Lên ngôi rửa oan cho ông, truy phong ông chức Đặc tiến kim tử vinh tộc đại phu, tước Tán trù bá.

Tức sự

Tiểu tiểu hiên song nuỵ nuỵ lư,
Quan cư đốn giác loại u cư.
Thương ba giang thượng nhàn thuỳ điếu,
Lục thụ âm trung tĩnh khán thư.
Vũ quá tình lam khuy hộ dũ,
Phong lai tuyết lãng vũ đình trừ.
Ngọ song tiêu sái vô trần luỵ,
Nhất phiến nhàn tâm nhiếp thái hư[5].

Dịch: Ghi việc

Nhà lè tè, hiên tẻo teo,
Dinh quan có khác chi lều ẩn đâu.
Khi nhàn sông biếc buông câu,
Tĩnh ngồi đọc sách xanh màu bóng râm
Tạnh mưa cửa lọt hơi lam,
Thềm sân bông tuyết múa mang gió vần.
Êm song trưa, sạch luỹ trần,
Một lòng thanh rúng động tầng thái hư.

Ninh Tốn (1743 – ?)

Người làng Côi Trì (nay là xã Yên Mỹ, huyện Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. Đậu tiến sĩ năm 1778, được bổ Thừa chính sứ. Năm 1788, làm Hữu thị lang bộ Công, kiếm bộ Lễ, tước Trường nguyên bá. Nhà Lê mất, ông ra làm quan với triều Tây Sơn, đến chức Thượng thư bộ Binh, tước hầu.

Hoè Nhai[6]

Liễu mạch hoa cù nhân tận giai,
Phong lưu toàn chiếm độc Hoè nhai.
Kiều nhiên bách mị khoa xuân thái.
Uyển chuyển tân thanh não khách hoài.
Hoa đố chu nhan đăng hạ lạc,
Oanh hoà trâm hưởng hạm tiền thôi.
Tầm thường vị phóng thiên kim tiếu,
Trực thị vương tôn đái tửu lai.

Dịch: Hoè Nhai

Đường hoa ngõ liễu người xinh,
Phong lưu chiếm hết riêng dành Hoè Nhai
Yêu kiều trăm vẻ khoe tươi,
Tiếng ca réo rắt não người lắm phen
Hoa ghen má, rụng dưới đèn,
Oanh hoà phách gõ trước hiên rộn ràng.
Mua cười ai bỏ nghìn vàng,
Đợi vướng tôn tới rượu mang đầy vò.

Đoàn Nguyễn Tuấn (1751 – ?)

Người làng Hải An (nay là xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình). Ông có thi đỗ hương cống có lẽ vào đời Cảnh Hưng nhưng không làm quan cho triều Lê. Năm 1788, dường như ông cùng với một số nho sĩ vào Nam yết kiến Nguyễn Huệ và được vị thủ lĩnh quân Tây Sơn trao cho chức Trực học sĩ Viện Hàn lâm. Sau chiến thắng Đống Đa, năm 1790 ông được Nguyễn Huệ lúc bấy giờ là vua Quang Trung, cử đi sứ trong phái bộ của Phan Huy ích, khi về được phong Tả thị lang bộ Lại tước Hải phái hầu.

Tây Hồ cán ti

Dâm Đàm thuỷ sắc chính liên y,
Kiều thương quan hoàn cán trạc thì.
Thái triệt long oa[7] phô luyện chử,
Cẩm hồi thước phố dục hà ky[8]
Tàm tang sinh lý thân thường khiết,
Tích lịch kỳ phương[9] thủ bất qui.
Hà xứ sương chân hàn đảo nguyệt,
Sầu nhân thanh đáp cán hồ ti.

Dịch: Chuội tơ ở Hồ Tây

Hồ Tây sắc nước gợn lăn tăn,
Cầu tựa xem phường chuội sợi săn.
Màu thấu hang Rồng phô bến lụa,
Gấm vây bãi Thước giặt doành Ngân.
Tằm tang lẽ sống, thân thường sạch.
Sấm sét phương hay, tay chẳng sần.
Đâu chốn chày sương đang nện nguyệt
Chuội tơ đáp lại tiếng bâng khuâng.

Nguyễn Du (1755-1820)

Quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh nhưng sinh và sống thời niên thiếu ở Thăng Long, trong nhà thân phụ là Nguyễn Nghiễm, Tham tụng Xuân quận công triều Lê. Năm 1784 đậu tam trường. Năm 1786, Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Du chạy về quê vợ ở xã Quỳnh Côi, huyện Hải An, tỉnh Thái Bình. Năm 1796 trở lại quê nhà. Năm 1802 ra làm quan với nhà Nguyễn, trải qua các chức tri huyện Phù Dung, tri phủ Thường Tín, Tham tri làm việc ở Nội các, Cai bạ ở Quảng Bình. Năm 1813 được thăng hàm Cần chính điện học sĩ, làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Năm 1814 trở về, từ ấy làm quan ở kinh cho đến lúc mất. Ngoài thơ chữ Hán ông còn có tác phẩm Nôm nổi tiếng như Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh…

Thăng Long (kỳ nhất)

Tản lĩnh Lô giang tuế tuế đồng,
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long.
Thiên niên cự thất thành quan đạo,
Nhất phiến tân thành một cố cung.
Tương thức mỹ nhân khan bão tử,
Đồng du hiệp thiếu tận thành ông.
Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ,
Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung.

Dịch: Thăng Long (bài 1)

Sông Lô núi Tản y nguyên,
Bạc đầu còn được ngắm nhìn Thăng Long
Nhà lớn cũ; đường cái chồng,
Một toà thành mới, dấu cung xưa mờ.
Người đẹp quen, ẵm con thơ
Bạn chơi hồi trẻ bây giờ lão ông.
nao lòng, đêm thức chong chong
Véo von tiếng tiếng địch lồng ánh trăng

Trần Bá Lãm (1757-1815)

Người làng Vân Canh, huyện Từ Liêm (nay thuộc ngoại thành Hà Nội) đậu nhị giáp tiến sĩ chế khoa năm 1787, làm quan đến Đô cấp sứ trung, đốc đồng Hải Dương. Nhà Lê mất, đến đời Gia Long (1802-1820) ông làm đốc học Bắc Ninh. ông có viết tập thơ La Thành cổ tích vịnh về những di tích cổ của Thăng Long – Hà Nội, ở đây trích hai bài:

Ngọc hồ tự

Địa bất Bồng lai ẩn trích tiên[10],
Y hi hoàn bội bãng hoa biên.
Đại hưng môn ngoại tiên tung diểu,
Nan mịch Đào nguyên nhận túc duyên[11].

Dịch: Chùa Ngọc hồ

Đất chẳng Bồng lai náu trích tiên,
Bên hoa văng vẳng xuyến vòng rền.
Đại hưng ngoài cửa tiên mờ dấu
Khó kiếm nguồn Đào nhận túc duyên.

Nhị Trưng từ

Gia cừu quốc hận cảm thâu sinh,
Lực vẫn sơn hà tỉ muội binh.
Lãng bạc thảo hoa trường đới lệ,
Thiên thu kỳ tiết bại do vinh.

Dịch: Đền Hai Bà Trưng

Hận nước thù nhà, trộm sống sao?
Chị em dấy nghĩa cứu đồng bào.
Cỏ hoa lãng bạc tuôn nguồn lệ
Bại đấy mà vinh, tiết mãi lưu.

Nguyễn Văn Siêu (1795-1872)

Người làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, sau di cư ra ở phường Dũng Thọ, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội (nay là phố Nguyễn Siêu). Đậu phó bảng năm 1838, làm quan đến án sát Hưng Yên. Năm 1849, được cử làm phó sứ sang Trung Quốc, sau bị giáng xuống Hàn lâm thị độc, ông cáo quan về ở phường Dũng Thọ, mở trường Phương đình dạy học, học trò theo học rất đông. Ông là người đứng ra tu bổ chùa Ngọc Sơn, dựng đình Trấn ba, cầu Thê Húc, tháp Bút, đài Nghiên.

Thưởng Ngọc Sơn tự chung lâu

Lão ông giải cấu cộng huề châu,
Loạn đả lâu chung hoán thượng lâu
Nhân ngữ trà yên thiên bán lạc,
Thuỷ quang vân ảnh toạ trung phù.
Tà tà phi điểu qua cao thụ,
Cổn cổn tình văn điệp tế lưu
Bất vị di nhàn yên chí thử,
Giang san mạc thác cổ kim sầu.

Dịch: Lên lầu chuông chùa Ngọc Sơn

Gặp ông già rủ ghé xuồng,
Giục lên lầu, nện chuông buông đổ hồi.
Khói trà tiếng nói lưng trời,
Bóng mây ánh nước chỗ ngồi nổi quanh.
Tà tà chim lướt qua cành,
Sóng lăn tăn gợn vòm xanh làu làu;
Không cầu vui ai đến đâu,
Non sông xin chớ gợi sầu cổ kim.

Cao Bá Quát (1809-1855)

Người xã Phú Thị, huyện Gia Lâm (nay thuộc ngoại thành Hà Nội). Đậu cử nhân năm 1831, năm 1840 được bổ làm hành tẩu bộ Lễ. Năm 1841, được cử làm sơ khảo trường thi Thừ Thiên, do lòng mến tài, ông đã cùng với Phan nha dùng bút thấm muội đèn chữa cho 24 quyển khá. Việc lộ ra, ông bị giam vào ngục. Cuối năm 1842, ông bị ghép vào đoàn tàu đi các nước Malaixia, Xinggapo, Inđônêxia làm công việc mua hàng cho vua để chuộc tội. Năm 1847 ông được triệu về Huế, bổ vào Viện Hàn lâm làm biên tập các vần thơ ca. Năm 1852 ông buộc phải rời kinh đi làm giáo thụ phủ Quốc Oai. Năm 1854 ông cầm đầu cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương. Tháng giêng năm 1855, Cao Bá Quát chết trận.

Thứ vận Thận Tư phóng quan Nhị hà, đồng Di Xuân, Hoà phủ

Tài thu tế vũ hựu vi phong,
Độc ỷ thương mang mộ khí trung
Tế bắc sơn liên bình dã hợp,
Trực nam vân nhập đại hoang không.
Thành y Long đỗ kiêm thiên tráng,
Lãng quyển đào hoa sánh địa hồng.
Hao hao quầnh kim cổ ý,
Thử thân hà sự tác thi ông.

Dịch: Thứ vận thơ Thận Tư, phóng tầm mắt nhìn sông Nhị, cùng Di Xuân, Hoà phủ

Mưa bụi dứt, gió nhẹ lan,
Một mình tựa bóng chiều man mác nhìn.
Mạn Bắc đồng hợp núi liền,
Phía nam mây tản nhập miền hoang vu.
Thế hùng Long đỗ trời cho,
Hoạ đào sóng cuốn đất phô đỏ ngời.
ý kim cổ núi sông khơi,
Thân này sao hoá ra người làm thơ.

Miên Thẩm (1819-1870)

Con thứ mười của vua Minh Mệnh, được phong tước Tùng Thiện Vương. Là một ông hoàng lớn lên trong cung điện nhưng ông rất yêu nông thôn, tự ông làm ruộng, khai mương và vận động các ông hoàng bà chúa khác làm theo. Thơ ông chứa chan lòng yêu nước, luôn gắn chặt với thiên nhiên và con người lao động. Khi Pháp xâm lược nước ta, ông làm thơ ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu và bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Du Trấn Vũ quán[12]

Cao lâu độc thướng tứ đê hồi
Tịch mịch hàn chung mộ sắc thôi.
Cổ thụ hữu chi thê dạ nguyệt,
Tàn bi vô tự toả thương đài.
Bách niên đồng tượng nguy nhiên tại,
Ngũ đại kim môn bán dĩ đồi.
Chỉ thặng Tây hồ vân thái hảo,
Tuỳ phong do phất hoạ liêm lai.

Dịch: Chơi quán Trấn Vũ

Lầu cao bịn rịn đứng cô liêu
Chuông lạnh đưa chiều giữa quạnh hiu
Cây cổ có cành trăng đậu tối,
Bia tàn không chữ dấu phong rêu
Tượng đồng bao thuở còn sừng sững,
Cửa tía năm đời nửa lở xiêu.
Chỉ sót hồ Tây mây ráng đẹp,
Phất phơ theo gió động mành treo.

Nguyễn Tư Giản (1823-1890)

Người làng Du Lâm (nay thuộc xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội). Đậu tiến sĩ năm 1844, làm quan đến chức Thượng thư bộ Lại, Thị lang bộ Hộ. Năm 1881, cáo quan hưu trí. Sau chuyến sang sứ Trung Quốc, ông cùng các nhân sĩ Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Đức Hậu, Bùi Viện dâng sớ lên Tự Đức để trình một chương trình canh tân đất nước, nhưng không được chấp nhận.

Hiếm hồ kỷ du

Lan nhiêu vi yết tịch dương tà,
Thị ái hồ quang thị ái hoa.
á thuỷ sổ chi hồn nhập hoạ,
ỷ sơn cô các tự phù gia.
Trúc âm hưởng ngạn dao tình nguyệt,
Đăng ảnh thiên môn đái lạc hà.
Tửu bãi hồi xa kham trướng vọng,
Thanh phong vô lực tải tỳ bà.

Dịch: Ghi cuộc chơi hồ Gươm

Cành lan mềm níu ánh tà,
Bởi yêu hồ sáng yêu hoa nặng tình.
Nhánh nước toả tự trong tranh,
Gác dựa non gợi chênh vênh nhà sàn.
Trúc lay bóng nguyệt bờ vang,
ánh đèn nghìn cửa cõng làn ráng sa
Tiệc tàn xe chuyển trông ra,
Gió không chở nổi tỳ bà ngân rung.

Nguyễn Khuyến (1835-1909)

Người thôn Vi Hạ, xã Yên Đổ (nay thuộc xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam). Năm 1864 đậu Giải nguyên, năm 1871 đậu Hội nguyên và Đình nguyên, lần lượt trải qua các chức Nội các thừa chỉ, Sử quán toản tu, Đốc học rồi án sát Thanh hoá, Biện lý bộ Hộ, Bố chính Quảng Ngãi, năm 1879 bị đàn hại phải về kinh, lại làm Toản tu ở sử quán. Năm 1883 được thăng Quan lộc tự Khanh. Khi quân Pháp chiếm được cả nước ta, ông đang dưỡng bệnh ở quê, được cử ra làm quyền Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên nhưng ông cương quyết từ chối, sống cảnh bần hàn ở quê Yên Đổ suốt hơn hai mươi năm trời.
Giáp Thân Trung thu ngụ Hà Nội hữu cảm, ký đồng niên cử nhân Ngô[13]

Thập niên thử địa thử trung thu,
Thành quách y y cảnh dĩ thù.
Bạch chúc hồng đăng mê viễn cận,
Tố quan thanh cái tạp thuỳ ngô.
Tô giang hữu hận đào thanh cấp.
Nùng lĩnh vô tình dạ nguyệt cô.
Dạ cấm cận văn nghiêm túc thậm,
Thi ông tằng ức cựu du phù?

Dịch: Cảm nghĩ nhân dịp tiết trung thu năm Giáp Thân (1884) ở Hà Nội, viết gửi bạn đồng niên là ông cử nhân họ Ngô

Mười năm trước cũng trung thu,
Thành xưa nguyên đó, cảnh giờ khác xa.
Đèn hồng nến bạch lập loà,
Dù xanh mũ trắng tây ta lộn ngầu.
Sông Tô sóng hận dồn mau,
Núi nùng trơ mảnh trăng thâu vô tình.
Cấm đi đêm lệnh nghiêm minh,
Nhà thơ còn nhớ cuộc mình chơi xưa?

Dương Khuê (1839-1902)

Người làng Vân Đình (nay là xã Dương Đình, huyện ứng Hoà, thành phố Hà Nội). Đậu Tiến sĩ năm 1868, sơ bổ Tri phủ Bình Giang (Hải Dương) rồi thăng Bố chánh. Trước tình thế giặc Pháp xâm chiếm đất nước ta, ông dâng sớ bàn phải quyết chiến, không nên nhượng đất cho giặc, vua Tự Đức phê “Bất thức thời vụ”, bị giáng chức làm Chánh sứ Sơn phòng, điều hành việc khai hoang, sau đó được thăng Đốc học Nam Định rồi Bố chánh. Đời Thành Thái, ông làm Tổng đốc Nam Định – Ninh Bình, về hưu được tặng thêm hàm Thượng thư bộ Binh. Cuối đời ông đi vào con đường thoát ly hưởng lạc.

Hà thành Trung thu tiết

Phong tĩnh hà minh mộ vũ hưu,
Giang thành triệt dạ tễ quang phù
Khí đặng thu hạ xa tranh đạo,
Hoàn kiếm hồ biên nguyệt quải lâu
Thế sự như kỳ vô định cục,
Suy niên tá tửu mạn tiêu sầu.
Nhi đồng tham trục ngư long hý,
Bất kế sơn hà dĩ bán thu.

Dịch: Trung thu ở Hà Nội

Gió lặng mưa tan ráng ửng màu,
Thành sông tạnh sáng suốt đêm thâu.
Dưới cây đèn điện xe tranh lối,
Bên cạnh hồ Gươm nguyệt rủ lầu,
Sự thế như cờ chưa dứt cuộc
Tuổi già mượn chén tạm khuây sầu.
Trẻ con mê mải trò rồng cá,
Chẳng kể sơn hà nửa nhuốm thu.

Nguyễn Thuật (1842 – ?)

Người làng Hà Lam (nay thuộc xã Bình Nguyên, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam). Đậu Phó bảng năm 1868, làm quan đến chức Thái tử Thiếu bảo, Hiệp biện đại học sĩ, lĩnh chức Thượng thư bộ Binh và giảng sách tại toà kinh diên. Từng làm Chánh sứ sang Trung Quốc.

Đăng Hà Nội thành kỳ đài

Bách trượng bàn không thanh đắc tà,
Cao lăng bích lạc đãng vân hà.
Lâu đài tần tác đương song tận,
Trần cấu vô lao cử phiến già.
Nhị thuỷ phong phàm phiên điệp sĩ,
Kiếm hồ tự tháp dũng liên ba.
Đăng lâm hà sự sinh sầu tứ,
Thương hải hung hoài mi hữu nha (nhai)

Dịch: Lên Cột cờ thành Hà Nội

Vút trăm trượng, bậc đá lên,
quét ráng mây sừng sững trên nền trời.
Thấy từng cửa sổ lâu đài,
Quạt che bụi bậm trần ai khỏi cầm.
Buồm sông Nhị: cánh bướm dăng
Tháp chùa hồ Kiếm sóng lừng bè sen.
Lên chơi đừng để sầu nhen,
Dẫu lòng biển rộng bên ven có bờ.

Chu Thấp Hi (cuối thế kỷ Xĩ đầu thế kỷ XX)

Người Đào Xá, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Đậu cử nhân, từng đoạt giải cuộc thi Vịnh Kiều của tao đàn Hưng Yên năm 1905 về thơ chữ Hán, cùng với Chu Mạnh Trinh đoạt giải về thơ Nôm.

Vịnh Hà Nội Văn Miếu thập cảnh thi (tuyển nhị thủ)

Bi đình thạch triện

Long bàn phượng vũ mặc ngân lưu,
Phiếu diểu vân yên tứ diện phù.
Minh thế văn chương, Yên Hứa bút[14]
Cô đình phiến thạch túc thiên thu.

Dịch: Thơ vịnh mười cảnh Văn miếu Hà Nội (chọn hai bài)

Chữ khắc đá ở nhà bia

Nét tươi phượng múa rồng bay
Nổi nênh bốn mặt khói mây bời bời.
Bút Yên Hứa, văn giúp đời,
Ngàn thu tấm đá đình côi đủ truyền.

Thạch khánh hoà minh

Khuê lâu trần tĩnh nguyệt quang thâm,
Phũ thạch thanh cao vạn lại trầm.
Ti trúc thiên thu dư vận tại,
Khanh khanh từ hoạ bích gian âm.

Dịch: Khánh đá hoà âm

Gác Khuê bụi sạch trăng tà,
Trong cao tiếng đá, gần xa lặng trầm
Trúc tơ dường vẳng dư âm,
cách tường lanh lảnh thơ ngâm hoạ cùng.

Chú thích:

[1] Chùa Diên Hựu xây dựng năm 1049 dựa theo một giấc chiêm bao của vua Lý Thái Tông. chùa dựng trên một cột đá giữa hồ nước rộng tượng trưng cho một đoá hoa sen, nên thường gọi là chùa Một Cột.
[2] Tác giả ví mái chùa với tấm gương lạnh, phản chiếu bóng tượng chim thú (trong thần thoại ấn Độ, trang trí ở chùa) ngủ ngược đầu.
[3] Theo quan điểm triết học Phật giáo, phải coi hình tướng mọi sự vật một cách bình đẳng (ngang hàng) với nhau, để khám phá bản thể của nó, không cố chấp giáo điều, thành kiến, vì vạn vật có mối tương quan.
[4] Tháp Báo Thiên vốn có tên là tháp Đại Thắng Tư Thiên, ở chùa Sùng Khánh Báo Thiên 9ở khu vực nhà thờ lớn ngày nay), xây năm 1057 trên một gò đất cao bên cạnh hồ Lục Thuỷ (hồ Hoàn Kiếm) gồm 12 tầng, cao vài chục trượng (khoảng 80m), đỉnh tháp đúc bằng đồng. Tháp bị sập năm 1547.
[5] Thái hư: tầng cao nhất trên chín tầng trời.
[6] Hoè Nhai có nghĩa là Đường Hoè, tức là con đường mà hai bên vệ trồng rặt một loài cây hoè. Con đường này dẫn từ bến Đông Bộ đầu (nay là chỗ dốc Hàng Than) vào phía Bắc Hoàng thành. Thời Lê nơi này mang tên phường Hoè Nhai, có nhiều ca nữ hát với nhịp phách cung đàn, là một chốn phong lưu của kinh thành Thăng Long, thời đó. Đời Nguyễn đổi tên là phường Giai Cảnh (tương ứng với địa bàn các phố Hoè Nhai, Hàng Than, Nguyễn Trường Tộ… hiện nay).
[7] Long oa: hang Rồng. Người xưa cho rằng dưới vùng nước sâu rộng là hang ở của rồng, rồi từ đó nâng lên là “Long cung” (Cung điện của Thuỷ tề Long vương).
[8] Hà ky: dịch thoát là doành Ngân. Vì trong câu thơ còn có từ Thước phố (bến Thước) cho nên có lẽ tác giả muốn dùng điển “chim Ô Thước bắc cầu qua sông Ngân hà” để hàm ý Chức nữ dệt gấm.
[9] Tích lịch kỳ phương: Sấm sét phép lạ: ý nói tiếng đập lụa vang lên như sấm sét.
[10] Trích tiênị đầy xuống trần.: tiên b
[11] Túc duyênối duyên từ kiếp trước.: m
[12] Quán Trấn Vũ ở vên Hồ Tây, thường gọi là đền Quan Thánh, thờ thần Huyền Thiên Trấn Vũ thần trấn trị phương Bắc.
[13] Cử nhân Ngô: tức là ông Ngô Văn Dạng, người làng Kim Cổ, huyện Thọ Hương (Hà Nội), đỗ cử nhân đồng khoa hương với Nguyễn Khuyến.
[14] Yên Hứa bút: những người thư pháp giỏi ở Trung Quốc thời xưa.

Hoài Anh
Nguồn: hoinhavanvietnam.vn

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
NGƯỜI ĐĂNG
Admin: Nếu quý vị muốn đăng tải, chia sẻ bài viết, tài liệu, hình ảnh xin vui lòng gửi về bbt@thuhoavietnam.com hoặc viết bài trên Diễn đàn
 
Viết phản hồi