Art from Calligraphy – end

 
Đăng bởi: 17 December 2008
views  188 lượt xem
CHIA SẺ:

Kỳ cuối: Tiêu chuẩn phê bình

Việc xác lập những khái niệm ở trên sẽ làm cho việc phân biệt rạch ròi những vấn đề quan trọng. Như giới hạn của “văn tự” và “thư pháp”. Hồ Hà Thanh trong bài viết “Thiên thư của Từ Băng và trào lưu thư pháp mới” đã đem Tích thế giám của Từ Băng đưa vào trong lĩnh vực thư pháp để tiến hành phân tích: “Từ Băng lấy hơn 2000 Hán tự giả tổ hợp cấu thành nên một vũ trụ nhỏ của phương đông. Đó cũng chính là cảnh giới tối cao trong mĩ học của thư pháp Trung Quốc” (Tùng thư nghiên cứu thư pháp thể kỷ 20 – Đối thoại đương đại. Nhà xuất bản Thượng Hải, 2000). Tích thế giám sử dụng Hán tự để đạt tới một ý cảnh nào đó – một trong các khả năng của ý cảnh – nhưng khả năng đạt tới ý cảnh của thư pháp gần như còn khá xa, bởi thư pháp còn bao hàm nhiều vấn đề quan trọng nhưng trong tác phẩm này căn bản không đề cập tới – nếu như động chạm tới những yếu tối đó tác phẩm khi được trung bầy ra sẽ là một hình ảnh khác.

“Nội bộ” và “ngoại bộ” có sự khác biệt ngau về mặt ý nghĩ. Người ta thường đem loại tác phẩm 1,2 và 3 tiến hành so sánh, cho rằng phía trước là Bảo thủ (cổ điển) , sau là Tiền vệ. Thực ra cả hai ở đây còn bao hàm một sự phân công. Tác phẩm trước chủ yếu tiến hành sáng tạo ở bên trong của hình thức ngôn ngữ, tác phẩm phía sau sử dụng những nhân tố có liên quan tới thư pháp mà tiến hành sáng tạo. Việc lập ý, cấu tứ cho tới những mục tiêu trong nghệ thuật và văn hóa của cả hai đều không giống nhau, đối với yêu cầu về tài năng của nghệ sĩ, phương thức đọc và lí giải tác phẩm cũng không giống nhau. Nếu như đem tiến hành so sánh cả hai trước hết phải tách biệt một số vấn đề rồi tiến hành thảo luận nếu không sẽ mãi mãi chỉ có thể lướt trên bề mặt của sự vật. Ngoài ra, loạt tac phẩm phía trước cũng có thể thành một bộ phận cơ sở cho sáng tác của loạt tác phẩm sau. Không ngại đem những kỹ pháp của thư pháp, hình thức, hàm nghĩa của thư pháp so với việc nghiên cứu động lực học không khí và chế tạo động cơ, những tác phẩm lấy quan niệm làm chủ đề thì giống với việc thiết kế máy bay. Cả hai đều có quan hệ với nhau nhưng lại không cùng lĩnh vực. Người ta có thể dùng động cơ mới để trang bị cho máy bay loại mới đương nhiên cũng có thể sử dụng những động cơ loại cũ để lắp đặt lên máy bay mới có điều bất kể quan niệm của việc thế kế hay trào lưu có thay đổi như thế nào thì việc nghiên cứu động lực học không khí và cơ cấu nguyên lí phát động vẫn phải được tiếp tục nghiên cứu.

Việc xác lập những khái niệm trân còn giúp cho chúng ta có một tiêu chuẩn đáng giá hợp lí. Các loại tác phẩm trước tiên sẽ nhận được những đánh giá trong nghệ thuật đương đại. Một vất đề không dễ né tránh đó là những tác phẩm “Gốc từ thư pháp” vì sao lại nhận sự đánh giá từ nghệ thuật đương đại (chiếm ưu thế trong việc sáng tác này đó chính là những tác phẩm đương đại phương tây) ? Vì sao lại không xây dựng cho loại tác phẩm này một tiêu chuẩn giá trị độc lập?

Chúng ta tách vấn đề thành 2 phương diện để bàn. Trước tiên trên phương diện thị giác. Phong cách và nghệ thuật của phương Đông và phương tây có rất nhiều điểm khác biệt. Có thể nói bao gồm đồ thức, hình thức cấu thành đều không giống nhau, điều này tạo nên những khuynh hướng, những tiêu chuẩn thẩm mĩ của các các thời kỳ, dân tộc khác nhau. Nếu như chúng ta đem nguyên lí sáng tác của nội hàm trong các đồ thức mà tiến hành phân tích thì sẽ phát hiện ra rằng bất luận các dạng đồ thức nào bao hàm các nguyên lí cấu thành gần như không có sự phân biệt như : bình hành – thống nhất – so sánh – đối xứng… trong bất cứ hình thức nghệ thuật nào cũng đều có thể tìm thấy. Sự khác biệt về tiêu chuẩn thị giác của những quần thể khác nhau, trên thực tế chính là sự khác biệt đồ thức, dạnh thức chỉ được đặt trên bề mặt của sự vật, là kết quả của kinh nghiệm và kí ức. Ví như đem kết cấu chữ của Vương Hy Chi và Beuys những tranh vẽ trên mặt phẳng thì có thể coi là khác nhau như trên trời dưới bể nhưng sự bình hành, thống nhất trên cấu đồ của cả hai đều đạt tới trình độ cực cao. Nếu như chúng ta thừa nhận đó là một phương thức cảm thụ, sự quan sát thì nó có thể trở thành một nền tảng cho hệ thống đánh giá về phương diện thị giác cho rất nhiều lĩnh vực. Trên thực tế hệ thống của sự đánh giá về thị giác có hàng ngàn mối liên hệ với nhau. Không hề có sự tồn tại độc lập của một hệ thống đánh giá thị giác

“Hiện đại thư pháp” Mang trong mình mong mỏi trở thành một bộ môn nghệ thuật độc lập, hy vọng có thể mở ra tiêu chuẩn của thư pháp, lại có thể mở ra tiêu chuẩn của nghệ thuật hiện đại – xét một các tổng quát, thành bại được mất đều do bản thân nói mà thôi. Nhưng điều này thì không có thể. Sự né tránh mong muốn đó tạo thành sự hỗn loạn trong đánh giá. “Nói đó là thư pháp, trong nó lại có nhân tố cấu thành của hiện đại. Nói dó là nghệ thuật hiện đại thì trong nó lại bao gồm thành phần thư pháp – nhà phê bình thư pháp và phê bình mĩ thuật đều không có câu trả lời, đó tại thành một vết nối : Một số biểu hiện nào đó là mới nhưng thực chất lại thiếu tính sáng tạo độc đáo cứ lấy danh nghĩa là sáng tạo để nhận được sự ưu đãi” (“Tính chủ đề của sáng tác” và những vấn đề liên quan- Thư pháp báo – Kỳ 750). Tôi nói tới tuy chỉ là những sáng tác mang tính cấu thành 2 lần của “thư pháp Học viện phái” kỳ thực cũng bao gồm cả những tác phẩm hy vọng phá bỏ những quy phạm cũ của nghệ thuật. Trong lịch sử cũng không có ít những tác giả mang trong mình mong muốn phá cũ lập mới nhưng lại không hề có sự tránh né đối với những qu
y phạm, ví dụ như Marcel Duchamp đem tác phẩm “Suối” của mình gửi tới triển lãm mĩ thuật – những quy phạm mới được hình thành trong sự đấu tranh với những quy phạm cũ chứ không phải được đản sinh trong sự tránh né.

Thêm nữa, đối với hàm nghĩa về tiêu chuẩn đánh giá. Đối với một tác phẩm mang tính hiện đại những phương thức lí giải của truyền thống đều không thích ứng. cũng có thể nói mục tiêu của tác phẩm hiện đại chính là gợi mở những hàm nghĩa hiện đại của sự vật – đương nhiên cũng bao quát cả mối liên hệ với truyền thống. Ý nghĩa của gọi mở hoặc là sự chú giải lấy nền tảng là sự tiềm tàng về nội hàm phong phú của tác phẩm và còn vào cả phương thức lí giải của trí tuệ, phương thức của con người, sự tích lũy trong thời gian dài đối với những tác phẩm cùng loại, đây cũng đều không rời khỏi được những kinh nghiệm tích lũy được từ nghệ thuật hiện đại. Một tác phẩm hiện đại, thông qua việc lí giải nhận được ý nghĩa, tính độc đáo, tính phong phú và phán đoán về giá trị văn hóa đều cần có một đối tượng để so sánh. Những đều này đều đưa tới việc nhận được sự đánh giá trong hệ thống nghệ thuật đương đại đối với những tác phẩm có liên quan tới thư pháp, đương nhiên việc nghiên cứu đối với nguồn gốc của tác phẩm là điều không thể thiếu, chúng cũng phải được tìm tòi, tích lũy

Ngoài ra những tác phẩm “gốc từ thư pháp” và “gốc từ văn tự” đều có quy luật riêng của mình, tiến hành thảo luận theo từng loại sẽ dẫn tới thúc đẩy phương thức nghiên cứu và tách biệt các hàm nghĩa trong tác phẩm. Đây sẽ là một khó khăn đối với việc không phân loại rạch ròi. Sáng tác Thư pháp và “Gốc từ thư pháp” đều đã có một khoảng lịch sử, nhưng người ta khi nói đến ý nghĩa của cùng một tác phẩm thì đều không có sự giải thích tương đồng. Việc khác biệt không có gì là lạ, là ở chỗ chính là khi bàn đến gốc của các luận điểm đó, thì đều phát hiện ra rằng một trong hai bên đều rất hỗn loạn – người ta rất ý khi vì những ý kiến của mình đi tìm một nền tảng cơ bản cho luận điểm.

Càng ngày người ta càng nhận thức ra rằng, sử dụng những hàm nghĩa phức tạp, những thông tin văn hóa của văn tự, thư pháp để tiến hành sáng tác là một con đường rất có giá trị. Nhưng nếu như không có một nhận thức, nghiên cứu những yếu tố liên quan thì rất khó nhận được những ý nghĩa của tác phẩm. Chúng ta phải tiến hành kiểm kê từ gốc của những tác phẩm sáng tác có liên quan tới thư pháp. Nên đứng trên phương diện văn hóa đương đại, nghệ thuật đương đại để nhìn, để tìm thấy những con đường trên mặt học thuật.

Việc đề xuất khái niệm “Gốc từ thư pháp” và từ trong đó chỉ ra các loại tác phẩm, thảo luận quan hệ giữa chúng với thư pháp, viết và văn tự cho tới việc những quan hệ đưa tới những nhân tố mới, đồi thời lại có thể bảo lưu con đường trở về nghệ thuật đương đại. – “Gốc từ thư pháp” mới chỉ rõ khỏi nguyên, măt khác còn chỉ ra sự liên kết với cả nghệ thuật đương đại.

Thảo luận về “Gốc từ thư pháp” mới chỉ thực sự bắt đầu. Nó động chạm tới toàn bộ sáng tác có liên quan tới thư pháp, cũng có một ý nghĩa đem tới những luận đề mới cho công việc sáng tác/.

Hết

Tác giả: Khâu Chấn Trung
Bái Mai Tử chuyển dịch từ tiếng Trung Quốc

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
NGƯỜI ĐĂNG
 
Viết phản hồi