“Calligraphy” và “Thư pháp chữ Quốc ngữ” (II)

 
Đăng bởi: 20 September 2009
views  2,094 lượt xem
CHIA SẺ:

—– Và vài nhận xét về bài viết của bạn Trịnh Tuấn —–

 Trong bài viết ‘Calligraphy’ và ‘Thư pháp chữ Quốc ngữ’ (đăng trên Chuyên san Thư hoạ ngày 17/9/2009), tôi có nêu một số băn khoăn về “thư pháp chữ Quốc ngữ”, rồi mời bạn Trịnh Tuấn thay mặt các anh em viết thư pháp chữ Quốc ngữ giải đáp dùm. Cách “trực hô kỳ danh” này rõ ràng là rất thiếu nhã nhặn, nhưng xem trên diễn đàn này, người dũng cảm và hăng hái cổ suý cho “thư pháp chữ Quốc ngữ” không ai hơn bạn Tuấn, nên tôi cũng cứ mạo muội. Đáng mừng là bạn Tuấn bỏ qua cho cư xử khiếm nhã của tôi, mà vui lòng viết một bài gọi là “hồi ứng”. Ở đây: http://trinhtuan.com/detail/cai-duoc-goi-bang-ten-khong-la-ten-hang-cuu.html

***

Thực ra, bài viết của bạn Trịnh Tuấn quyết không phải nhằm phản hồi bài viết của tôi. Lý do là vì bạn không trực tiếp vào ngay các băn khoăn của tôi, mà rẽ hẳn sang một hướng đi khác.

Bài viết của bạn, có tên Cái được gọi bằng tên không là tên hằng cửu, và chua thêm một dòng “Nhân đọc bài Calligraphy và Thư pháp chữ Quốc ngữ của Thế Chi”, là một bài viết độc lập, với những chủ đích riêng của nó, nhưng đáng tiếc nó không giúp những người chưa hiểu hết, hiểu đúng về “Thư pháp chữ Quốc ngữ” như tôi có cái nhìn sáng sủa hơn hay hy vọng hơn. Sự bi quan của tôi vẫn còn, và thậm chí đã lớn hơn một chút.

Vậy là giả sử có một sự đối thoại giữa tôi và bạn (thực tế là không có), thì đã xảy ra một hiện tượng mà như các cụ nhà ta vẫn nói- ông nói gà, bà nói vịt. Để có thể triệt tiêu khả năng “không hiểu đúng ý của nhau” đôi khi vẫn xảy ra trong giao tiếp, tôi xin trở lại với bài viết của tôi, và cũng xin trình bày luôn tôi đã “đọc hiểu” bài viết của bạn như thế nào. Như thế, nếu có chỗ nào tôi hiểu chưa đúng ý bạn, bạn có thể nói thêm cho rõ.

1. Tôi đã đặt vấn đề như thế nào?

Đầu tiên, có một tiền đề ngầm định cho bài viết của tôi, rằng việc viết chữ Quốc ngữ bằng bút lông, là một cố gắng thể hiện một cách có nghệ thuật chữ Quốc ngữ của Việt Nam, và vì thế, nó có thể coi là một trong số các thể loại “calligraphy” (nghệ thuật viết chữ) trên thế giới. (Xin lưu ý, “có thể coi là…” không có nghĩa “đã được coi là…”, và không ám chỉ “xứng đáng được coi là…”)

Thứ hai, trên cơ sở của tiền đề bên trên, tôi trước hết so sánh calligraphy phương Tây và calligraphy phương Đông, nêu ra ít nhất có ba điểm đối lập trong tính chất của chúng, như sau:

1, Tuyến tính vs. phi tuyến tính

2, Bút cứng vs. bút mềm (bút lông)

3, Đều đặn vs. biến hoá

Thứ ba, trên cơ sở của sự so sánh này, tôi hoài nghi về khả năng kết hợp hai dòng thư pháp phương Đông và phương Tây. Nói rõ hơn là, dùng bút lông và các thủ pháp thể hiện của thư pháp phương Đông (của loại chữ phi tuyến tính) liệu có thích hợp trong việc thể hiện các con chữ tuyến tính?

Tôi tạm nêu ra hai băn khoăn nhỏ:

a) Về bố cục chương pháp, làm sao dung hoà được một bên tự do bố cục (thư pháp phương Đông) và một bên bị hạn chế (thư pháp phương Tây), và bị hạn chế chính bởi tính tuyến tính của con chữ Latin?

b) Về tính biến hoá đa dạng, các nét cơ bản của con chữ Latin ít hơn một nửa so với chữ Hán, vậy Thư pháp chữ Quốc ngữ có biện pháp gì để giải quyết vấn đề?

2. Tôi chờ đợi gì ở sự phản hồi của bạn Trịnh Tuấn

Xét về mặt logic, nếu bạn Trịnh Tuấn thực sự muốn phản hồi bài viết, bạn có ba sự lựa chọn:

1-Lựa chọn thứ nhất của bạn, là giải đáp những băn khoăn của tôi. Bằng cách, chứng minh dùng bút lông và thủ pháp thể hiện của thư pháp phương Đông hoàn toàn thích hợp cho con chữ tuyến tính như chữ Latin. Có thể tạo ra được tác phẩm đẹp.

Tôi đã mong bạn lựa chọn cách này, nó khiến những người như tôi có thêm hy vọng vào tương lai thư pháp chữ Quốc ngữ.

Kể ra, tôi thậm chí có thể chia sẻ vài gợi ý nhỏ cho bạn:

Về sự đa dạng và biến hoá: Người TQ đã dùng bút lông viết dòng chữ Beijing 2008, viết giản dị mà vẫn rất đẹp. Trong dòng chữ ngắn ngủi ấy, có ba lần dấu chấm xuất hiện ngay cạnh nhau “Beijing”, có hai chữ “i” nằm gần nhau, chữ “j” và “g” (lối viết tay) có nét lượn ở cuối tương tự nhau, hai số 0 (trong 2008) nằm sát nhau. Tất cả những thách thức ấy, thư pháp gia Trung Quốc đều xử lý rất hoàn hảo, kỹ pháp rất tinh tế.

Về số lượng nét chữ cơ bản ít ỏi, chữ Hàn Quốc cũng chẳng phong phú hơn gì. Chữ Hàn Quốc cũng chỉ có 4 nét cơ bản: ngang, sổ, chéo và tròn, nhưng họ vẫn xây dựng được nền thư pháp chữ Hàn Quốc đấy thôi. Thế nên, chẳng nên quá lo lắng về sự biến hoá đa dạng trong thể hiện, miễn là kỹ pháp đủ tinh thâm.

Vấn đề còn lại là, tính tuyến tính của con chữ và bố cục không gian của tác phẩm.

2-Lựa chọn thứ hai của bạn, là phủ nhận những đối lập mà tôi đã vạch ra. Nếu những đối lập đó được chứng minh là không tồn tại, thì không có cái gọi là sự phân biệt giữa “thư pháp phương Đông” và “thư pháp phương Tây”, thì dĩ nhiên làm gì có sự “kết hợp”. Băn khoăn về tính khả thi trong kết hợp giữa hai truyền thống của tôi sẽ rơi vào chỗ trống. Nếu không phủ nhận, nghĩa là bạn chấp nhận những đối lập mà tôi nêu, trở lại lựa chọn một.

3-Lựa chọn thứ ba của bạn, đó là phủ nhận ngay tiền đề của tôi. Bạn chứng minh rằng, cái gọi là “thư pháp chữ Quốc ngữ” thực ra không phải một loại calligraphy (nghệ thuật viết chữ). Như thế cả bài viết của tôi ngay từ đầu đã sai lầm. Nếu không phủ nhận, nghĩa là bạn đồng ý với tiền đề của tôi, trở lại lựa chọn hai.

3. Bạn Trịnh Tuấn đã viết những gì

Bạn Trịnh Tuấn không trả lời câu hỏi nào của tôi, không phản biện về những đối lập tôi đã vạch ra, cũng không phủ nhận cái gọi là “thư pháp chữ Quốc ngữ” là một loại calligraphy. Vì vậy, về mặt thực chất, bạn Tuấn không phải đang phản hồi bài viết của tôi. Điều này, bạn cũng đã nói rất rõ. Bạn chỉ “nhân đọc” bài viết của tôi, mà viết một bài khác.

Bạn Trịnh Tuấn mở đầu bài viết bằng cách nêu ra nhận định: trước một sự vật hiện tượng, người ta có thể có nhiều cách hiểu khác nhau, và đó là quyền của mỗi người. Sau đó bài viết được triển khai làm ba phần, được đánh số 1, 2 và 3.

1, Ở đây, bạn đặt câu hỏi, tại sao vấn đề Thư pháp chữ Quốc ngữ lại cứ bị mang ra bàn đi bàn lại như thế nhỉ? Và bạn giải thích rằng, vì trong giới thư pháp ở Việt Nam, người ta chẳng có gì để bàn cả. Lý luận về thư pháp chữ Hán thì bàn không qua người Tàu. Lý luận về thư pháp Tiền Vệ thì người ta “kính nhi viễn chi”, bởi không biết nhiều về nó. Mỗi anh TPCQN này là dễ bàn ra tán vào hơn cả. Nhưng bạn khẳng định ngay, bạn không buồn về điều đó, ngược lại, sự ồn ã đó làm cho TPCQN được người ta biết đến nhiều hơn, và biết đâu lại là một mạch nguồn nuôi sống TPCQN.

2, Ở phần này, bạn giải thích về cái gọi là “sự yếu lý của TPCQN”. Vì trong phần này bạn có nhắc đến tên tôi, nên tôi sẽ trở lại kỹ hơn.

3, Ở phần này, bạn lại tiếp tục viện dẫn một khái niệm mang tính triết học nữa, rằng cái gì tồn tại cũng có lý do của nó, và nó chỉ mất đi khi đã hết sứ mệnh. TPCQN đã sinh ra và đang tồn tại do những bối cảnh cụ thể, vậy hãy cứ để nó tồn tại như nó vốn có, hãy để lịch sử nhân loại phán xét.

4. Vài nhận xét về bài viết của bạn Trịnh Tuấn

Dưới đây, tôi chủ yếu đề cập đến phần 2 của bài viết, nhưng cũng xin có một vài lời dạo đầu như sau:

Bạn cho rằng, giới thư pháp VN bây giờ không nói được gì về thư pháp cổ điển và tiền vệ, nên quay sang TPCQN mà nói ra nói vào. Nguyên văn của bạn như sau: “Với hai trong ba loại hình thư pháp đang song song tồn tại trong nước, người ta khó thể nói điều gì, nghiễm nhiên, góc ngắm còn lại tập chung [Thế Chi: tập trung] cho mảng TPCQN”. Nhận xét như vậy, theo tôi, là không công bằng lắm đâu.

Tôi cứ liều lĩnh mà tự nhận mình là người theo phái thư pháp cổ điển đi, thì chúng tôi có nhiều cái để nói với nhau lắm. Kiến thức thư pháp truyền thống tích luỹ trong cả ngàn năm nay, mênh mông vô cùng, không ai dám nghĩ mình đã hiểu hết, duy bàn ngần ấy chuyện thôi chúng tôi đã không đủ sức, chứ đừng nói đến chuyện thêm điều gì mới cho lý luận thư pháp truyền thống, hay rỗi rãi thừa hơi đi sang “bắt nạt” anh TPCQN. Vả, chúng tôi có quả thực rỗi rãi đi chăng nữa, chắc cũng dành thời gian để luyện bút, viết chữ chứ.

Thế nguyên do đâu mà TPCQN lại bị bàn ra tán vào. Cái này tôi quả thực không tường. Còn việc tôi viết bài trên, lại xuất phát từ một nguyên nhân rất ư mang tính xây dựng. Tôi muốn tin rằng, TPCQN quả thực có cơ sở để phát triển. Và tôi đặt niềm tin ấy vào bạn Trịnh Tuấn, một người mà rõ ràng rất chịu khó đọc sách triết học, tìm hiểu bản chất của thế giới là nhị nguyên hay đa nguyên, người như thế hẳn sẽ có những tư duy sâu sắc mang tầm triết học về TPCQN.

Tiếc là bạn vẫn đang giấu kín những điều sâu sắc nhất của mình.

Giờ xin trở lại với phần 2 trong bài viết của bạn.

Ngay dòng đầu tiên, bạn đã tỏ ra không hài lòng với cách gọi tên “thư pháp chữ Quốc ngữ”, bạn đặt ra một câu hỏi mở thế này: “Sự yếu lý của cái gọi là TPCQN, có lẽ khởi từ cách đặt tên cho nó(!?)” Rồi bạn triển khai ý kiến của mình như sau: “Bản thân khái niệm “thư pháp” áp vào cho nghệ thuật viết chữ Việt hiện đại, đã là một cái gì đó cưỡng ép, khi xét về nội hàm lẫn ngoại diên khái niệm thư pháp”. Và đến cuối bài viết, bạn đã chính danh cho “cái gọi là TPCQN” là: “nghệ thuật viết chữ Quốc ngữ”.

Vậy là ở đây, cần thiết phải trao đổi thêm là, bạn hiểu “thư pháp” là gì? Tôi thì hiểu đơn giản lắm. Calligraphy, với định nghĩa là “art of writing”, nghĩa là “nghệ thuật của sự viết chữ” hoặc “nghệ thuật của chữ viết”, được hiểu trong tiếng Trung Quốc là “thư pháp”, trong tiếng Hàn là “thư nghệ” và trong tiếng Nhật là “thư đạo”. Hiểu với nghĩa như thế, thì khái niệm “nghệ thuật viết chữ Quốc ngữ” với “thư pháp chữ Quốc ngữ” thực ra cũng không khác nhau. Trong bài viết của mình, tôi cũng bắt đầu bằng khái niệm calligraphy, để xác định cách hiểu về “thư pháp chữ Quốc ngữ”.

Tôi nhận thấy, tôi và bạn không mâu thuẫn gì với nhau ở điểm này. Vì vậy, đoạn văn sau, chắc bạn đang nói về một người nào đó: “Theo thiển ý của người viết bài này, việc cố gắng ghép cho được khái niệm “thư pháp” của người Tàu vào nghệ thuật viết chữ Quốc ngữ, bản chất đã là sai lầm, sai lầm hơn khi không tự tìm cho nó một-khái-niệm riêng và không lấy nguồn gốc từ sự sáng tạo chữ nghĩa của ông cha (điển hình là Nôm tự) làm căn bản, hay lối viết dị pháp trong Sắc Phong (rõ nét ở thời Lê) làm cơ sở phát triển kỹ pháp cho chữ Việt hiện đại.

Vậy thì, nếu có dịp, bạn giải thích thêm dùm tôi, tại sao bạn lại nghi ngờ cách gọi tên là nguyên nhân gây ra “sự yếu lý” cho “nghệ thuật viết chữ Quốc ngữ” mà bạn đang theo đuổi?

Còn tôi, thì tôi đã chỉ rõ ra “sự yếu lý” đó nằm ở chỗ khác cơ, nó chính là sự mâu thuẫn trong việc sử dụng các thủ pháp nghệ thuật của thư pháp phương Đông trong việc thể hiện con chữ tuyến tính của phương Tây, khi mà hai loại hình thư pháp (hay nghệ thuật viết chữ) này có sự khác biệt rõ rệt. Chữ Nôm, hay chữ Hán được viết theo lối sắc phong đời Lê, đều là chữ khối vuông cả, đều nằm trong phạm vi của thư pháp phương Đông. Nghiên cứu chúng để làm cơ sở phát triển kỹ pháp cho tiếng Việt hiện đại, thì vẫn là đang tìm cách áp dụng các kỹ pháp trong thư pháp phương Đông vào việc thể hiện con chữ tuyến tính của phương Tây mà thôi.

Đoạn thứ hai trong phần 2 của bài viết, có nhắc đến tên tôi, và bài viết của tôi. Nhưng nội dung chính của đoạn này, lại không liên quan tới những gì tôi đã viết. (Điều này làm tôi thắc mắc đấy). Bạn bắt đầu bằng việc diễn đạt lại ý kiến của tôi như sau: “Trong bài: calligraphy và “Thư pháp chữ Quốc ngữ” của tác giả Thế Chi đã dẫn về tuyến tính và phi tuyến tính để chỉ ra sự hạn chế về nét và cách phân chia không gian bố trạch các cụm âm tiết trong một kết thể/chỉnh thể của một từ trong một câu/một tác phẩm ‘thư pháp” (chương pháp).” Nhưng ngay lập tức, lại ngoặt sang một chuyện khác, một chuyện tôi hoàn toàn không đề cập trong bài viết của mình, đó là mối quan hệ giữa âm-hình-nghĩa của chữ Hán, so sánh với ký tự Latin. “Điều đó [Thế Chi: chỉ sự hạn chế đề cập ở câu trước] là hiển nhiên. Bởi Hán tự, bản thân Tự đã có Nghĩa, còn bản thân các ký tự latin (a, b,c, v.v…) không có nghĩa. Ngay việc nhận định đâu là âm, đâu là chữ trong tiếng Việt, nhiều người tốt nghiệp đại học còn nhầm, ví như: chữ B (bê) ghi âm “bờ”, chữ C, Q, K (xê, quy, ca) ghi âm “cờ” v.v… nhiều người còn không phân biệt nổi, lúc đọc là “xê” khi đọc là “cờ”. Phát thanh viên đọc trên đài trung ương vẫn đọc một câu nghe rất trái tai, là: Thành viên các nước “ét-en-rê” (SNG) và các nước “gờ-bảy” (G7) họp tại… Vậy, khi bàn đến ba vấn đề âm-hình-nghĩa trong thư pháp và đặc biệt là TPCQN thì bàn cái gì?”.

Trong bài viết của mình, cụm từ mà tôi sử dụng khi nói về tính tuyến tính và phi tuyến tính giữa các loại hình văn tự là như sau: “đơn vị phát ngôn bằng với một âm tiết”. Thậm chí tôi đã lấy ví dụ về thế nào là một đơn vị phát ngôn bằng với một âm tiết. “Dĩ”, “thư”, “pháp”, “thánh”, “truyền” vân vân, là những đơn vị phát ngôn bằng với một âm tiết, chúng đều được viết bởi hai ký tự Latin trở lên. Đơn vị phát ngôn bằng với một âm tiết cũng có thể tương đương với một ký tự, ví dụ trong câu: “Tình trong như đã, mặt ngoài còn e” (Truyện Kiều), thì “e” là một đơn vị phát ngôn bằng một âm tiết, được thể hiện bằng một ký tự. Nhưng không có nghĩa là, ký tự lại tương đương với một đơn vị phát ngôn bằng với một âm tiết.

Hơn nữa, tôi hoàn toàn không bàn gì đến mối quan hệ “âm-hình-nghĩa” cả. Thế nên câu hỏi tu từ này của bạn: “Vậy, khi bàn đến ba vấn đề âm-hình-nghĩa trong thư pháp và đặc biệt là TPCQN thì bàn cái gì?“, là để chất vấn ai khác, bài viết nào khác nào chứ, phải không ạ?

Vậy xin có lời với bạn Trịnh Tuấn thế này, nếu bạn định có nhận xét nào đó về mối quan hệ “âm- hình- nghĩa” giữa chữ Hán và con chữ Latin, xin bạn nêu rõ là ý kiến của bạn. Chứ cách bạn viết ngay sau khi diễn đạt lại một nhận định của tôi, dễ khiến cho người đọc hiểu nhầm rằng bạn đang nhận xét thêm về những gì tôi đã nhận định.

Đoạn thứ ba của phần 2 này, là đoạn bạn viết rất thành khẩn, và theo tôi, cũng là đoạn khả thủ nhất trong bài. Trong đó bạn thừa nhận rằng, “nghệ thuật viết chữ Quốc ngữ” khởi nguồn từ việc “chỉ viết chơi cho vui, nhưng thấy “hay hay” thì làm tới”. Và: “những nỗ lực sau này của không ít người mong muốn xây dựng một hệ thống lý luận cho TPCQN thì còn quá nhiều lúng túng và hạn chế, những cuốn sách chuyên về vấn đề này đã được xuất bản, nhưng chưa có cuốn nào thấu tình đạt đạt lý [Thế Chi: thừa một chữ ‘đạt’ ?], hầu hết rơi vào “tự thuyết” và không bảo hộ được chính kiến, số còn lại chắp ghép, đưa đẩy, hời hợt cho thành sách, không giải quyết được cốt lõi của việc xây dựng pháp và cơ sở luận của pháp ấy cho TPCQN. Ấy là thực trạng của nền thư lý sơ khai của TPCQN”.

 5. Vài lời kết lại

Cũng có một chút nuối tiếc, khi mà những băn khoăn của tôi trong bài Calligraphy và Thư pháp chữ Quốc ngữ chưa được giải đáp bởi một người, có thể nói là, hăng hái và có tư duy triết học tốt trong số những người viết thư pháp Quốc ngữ là bạn Trịnh Tuấn.

Nhưng thôi, câu chuyện có lẽ nên khép lại ở đây.

Tôi tin vào điều mà bạn Tuấn đã nhắc đến trong phần 3 của bài viết. Mọi sự tồn tại đều có nguyên nhân của nó.

Thế Chi

Ghi chú: những chỗ trong ngoặc vuông [ ] ở những đoạn trích dẫn nguyên văn là ghi chú thêm của tôi.

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
“Calligraphy” và “Thư pháp chữ Quốc ngữ” (II), 10.0 out of 10 based on 1 rating
NGƯỜI ĐĂNG
 
  • Học trò hậu hồi ngu ý tại đây:

    http://trinhtuan.com/detail/thu-phap-chu-quoc-ngu-goi-chan-tho-thap-cuoc-dau-be-thua.html

    VA:F [1.9.22_1171]
    Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
    VA:F [1.9.22_1171]
    Rating: 0 (from 0 votes)
    Trả lời
  • Đa tạ Tiên sinh hạ cố xem và còn phật tâm viết thêm bài nhận xét. Học trò ngu dốt , xin lĩnh nhận những cao ý của Tiên sinh.

    Dẫu biết là “thoại bất đầu cơ”, nhưng cũng xin liều đẩy đưa thêm vài ý nhỏ nữa, cốt không là tranh biện với Tiên sinh, mà chỉ mong hầu lại được thâm tình hạ cố của Tiên sinh cho tròn lễ. Dù vậy, cũng xin cố gắng trong bài viết sắp tới, mọi xưng hô suồng sã theo kiểu trao đổi cá nhân sẽ không tồn tại, mà xin được mã hóa những chia tiết mang hàm nghĩa như vậy, và nhốt những chia tiết ấy trong các ý của việc trao đổi khoa học, hòng hầu bạn đọc và tránh cho bạn đọc cảm giác đang nghe chuyện đối thoại quan điểm cá nhân của hai người.

    Cảm tạ Tiên sinh một lần nữa, và kính phiền Tiên sinh nán lòng chờ. Học trò viết lách cái gì cũng nhanh, nhưng trước đó (vì ngu dốt) phải nghĩ hơi lâu.

    Chúc Tiên sinh khang phúc!

    VA:F [1.9.22_1171]
    Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
    VA:F [1.9.22_1171]
    Rating: 0 (from 0 votes)
    Trả lời
    • Thế Chi says:

      Bài viết vội vã bên trên là nhằm trao đổi thêm với tiên sinh, khi viết có ý bỏ bớt đi sự kiểu cách, tăng thêm tình thân mật, nên gọi tiên sinh bằng “bạn”, thực là với cao. Trót làm tiên sinh có cảm giác xưng hô “suồng sã”, tôi ân hận lắm.

      Nay, tiên sinh vẫn không lấy thế làm giận, vui vẻ mà viết thêm một bài nữa, cốt ý là trao đổi khoa học, cho lý được tỏ tường, cho đạo được thông suốt. Thực là may mắn cho những người yêu thích thư pháp.
      Xin kính cẩn chờ đợi.

      VN:F [1.9.22_1171]
      Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
      VN:F [1.9.22_1171]
      Rating: 0 (from 0 votes)
      Trả lời
Viết phản hồi