Về một khái niệm quen mà lạ trong thư pháp: Thể (體)

 
Đăng bởi: 27 August 2009
views  2,238 lượt xem
CHIA SẺ:

Lâu nay, người ta cứ nói đi nói lại mãi thành quen, rằng “tứ thể thư pháp” là “Chân, Thảo, Triện, Lệ”.

Nhất là với những người mới gặp gỡ Thư pháp, ít ai biết rằng, cách nói này là khá lạp tạp, và dễ khiến người ta hiểu nhầm. Sở dĩ tôi nói như vậy, là vì nhiều bạn (trong đó từng có tôi) cứ đinh ninh rằng đây là bốn “thể” chữ đối lập nhau, tức là “Chân” đối lập với “Triện”, “Thảo” đối lập với “Lệ” vân vân.

Hiểu như thế, là có chỗ chưa đúng. Căn nguyên của sự nhầm lẫn ấy, là do chữ “thể” trong tiếng Hán có nghĩa khá rộng, cộng thêm việc người Hán lại ưa nói tắt.

(1) Trước hết nó để chỉ kiểu chữ (tự thể): ví dụ Khải thể, Lệ thể, Triện thể.
(2) Nó còn có thể chỉ lối viết chữ (bút thể): ví dụ Chân thể, Hành thể, Thảo thể.
(3) Nó còn có thể chỉ phong cách chữ của một thư pháp danh gia nào đó (thư thể): ví dụ Liễu thể, Nhan thể, Triệu thể, Sấu Kim thể…

Trong tứ thể thư pháp “Chân, Thảo, Triện, Lệ” trên kia, thì hai chữ đầu chỉ bút thể, mà hai chữ sau chỉ tự thể. Chúng không cùng một loại, nhưng vì một lý do nào đó, mà cứ được nói chung với nhau, nói riết đâm quen miệng. Rồi thì người ta cũng lơ là đi sự khập khiễng ở bên trong. Chỉ bất lợi cho những người mới học thư pháp, đâm dễ hiểu nhầm bản chất.

Tạm gác thư thể (phong cách) sang một bên, thì tự thể và bút thể tạo thành một ma trận như sau:

………Khải………Lệ………Triện
Chân…..(1)……….(4)………(7)
Hành….(2)……….(5)………(?)
Thảo…..(3)……….(6)………(?)

Thuyết minh:

Chân: Hay còn gọi là Chính, là lối chữ chân phương, chữ viết từng nét một, tuân thủ quy tắc thuận bút.

Hành: là lối viết nhanh, các nét cho phép nối liền với nhau, nhập hai nét làm một nét khác. Quy tắc thuận bút được điều chỉnh để làm tăng tốc độ viết. Các chữ cơ bản vẫn viết rời nhau. Hành thư là kiểu chữ trung gian giữa Chân và Thảo, nghiêng nhiều về Chân, thì gọi là Hành khải, nghiêng nhiều về Thảo, thì gọi là Hành thảo.

Thảo: là lối viết láu. Không chỉ nối nét trong một chữ, mà giữa các chữ cũng có thể nối với nhau. Cho phép giản lược số nét trong chữ. Hầu như không có chuẩn mực về quy tắc thuận bút. Nhiều chữ khác nhau, sau khi viết láu đi, có thể giống hệt nhau. Phân biệt phải dựa vào văn cảnh.

Khải, Lệ, Triện (lược).

Về tên gọi:

(1): thường gọi một cách giản lược là Khải thư.
(2): thường gọi một cách giản lược là Hành thư.
(3): thường gọi một cách giản lược là Thảo thư, khi cần nói rõ thì gọi là Kim thảo
(4): thường gọi một cách giản lược là Lệ thư
(5)-(6): gọi chung là Chương thảo
(7): thường gọi một cách giản lược là Triện thư
(?): Hoặc giả cũng có, nhưng tôi chưa biết đến.

Ví dụ bằng ảnh:

(5) Chương thảo 1

(5) Chương thảo 1

(6) Chương thảo 2

(6) Chương thảo 2

So sánh với:

(3) Kim thảo

(3) Kim thảo

Các thể chữ khác (1), (2), (4), (7), thiết tưởng đều quen thuộc cả.

Nói thêm vài lời:

Những gì vừa trình bày trên đây, tôi cũng từng mang ra bàn với một thạc sĩ chuyên ngành Thư pháp, trường Mỹ Thuật Trung Ương Trung Quốc, và nhận được một câu trả lời khá lịch thiệp “Bạn nghĩ vậy cũng đúng”. Nghe chừng “ngôn ngoại hữu ngôn”, tôi đâm băn khoăn. Có khi người ta chả hiểu nhầm, chỉ có mình mới nhầm chăng. Có khi người ta nói “tứ thể” thực ra chỉ “tứ thư”, Chân (thư)= Khải + chân (thể), Thảo (thư)= Khải + thảo (thể), Triện= Triện + chân (thể), Lệ (thư)= Lệ + chân (thể), mà vì chữ “tứ thư” dễ gây lẫn lộn (với Tứ Thư Ngũ Kinh), nên gọi tránh sang là “thể” chăng?!. Âu cũng chỉ là vọng đoán mà thôi.

Nhưng dẫu gì đi nữa, nói rõ thuật ngữ “thể” trong thư pháp hàm chỉ những gì cũng là việc nên làm.

Thế Chi

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
NGƯỜI ĐĂNG
 
Viết phản hồi