Art from Calligraphy – part 3

 
Đăng bởi: 17 December 2008
views  157 lượt xem
CHIA SẺ:

Kỳ 3: “Thư pháp” – “Phong cách thư pháp hiện đại” – “Gốc từ Thư pháp”

Trước đã nói tới, thư pháp và giới hạn của phi thư pháp, ở chỗ thư pháp phải bao gồm 2 yếu tố cơ bản: Văn tự và tính chất Viết một lần.

Văn tự trở thành giới hạn quan trọng. Nhưng, được gọi là hình thức sáng tác hiện đại của Thư pháp còn có thể tiếp tục một bước để phân loại: Phong cách thư pháp truyền thống và Phong cách thư pháp hiện đại.

Phong cách thư pháp truyền thống ở bút pháp, kết cấu, chương pháp… các phương diện đó đều có những quy phạm mang tính ổn định của mình, mỗi thư pháp gia tuy nhiên đều có những đặc trưng phong cách riêng của mình, nhưng cách thức cơ bản thì không đổi. Một trong những xuất phát điểm của việc sáng tác phong cách thư pháp hiện đại, chính là cải biến cách cục và motip, chính thể phong cách thư pháp hiện đại vẫn lấy văn tự tạo hình làm chỗ dựa, cũng tuân thủ nguyên tắc viết, nhưng bút pháp, đề tài, kết cấu chữ, bề mặt, chương pháp hoặt một phương diện nào đó có sự khác biệt rõ ràng với tác phẩm theo phong cách truyền thống, như Tăng Lai Đức “Tây Sương Ký – Đoan Chính Hảo” đem những bút pháp tối kỵ của thư pháp cường điệu tới cùng cực, như “Hinh” của Lạc Tâm Long, trên bề mặt của đường nét thêm vào sự biến đổi, như Khâu Trấn Trung “Đãi khảo văn tự hệ liệt. No.8” (1988) tuy nhiên viết vằng văn tự, nhưng một chữ được trùng điệp tới 4 lần, so với chương pháp của truyền thống hoàn toàn khác biệt, Nhât ký (7.9.1988 – 26.6.1989)” tuy lợi dụng quan niệm “thư vi tâm họa” của truyền thống, nhưng phương pháp cấu thành tùy ý cuối cùng đạt được hiệu quả chương pháp hoàn toàn khác với truyền thống.

Trên ý nghĩa “phong cách thư pháp hiện đại” là một phạm vi hẹp sáng tác loại tác phẩm này nếu gò bó sẽ bị rơi vào phong cách truyền thống, nếu quá đà sẽ vượt ngoài phạm vi của thư pháp. Tác giả nhất định phải ở trên hai yếu tố cơ bản là văn tự và việc viết để triển khai tưởng tượng của mình.
“Sáng tác có nguồn gốc từ thư pháp” (Nguyên tự thư pháp) và “Phong cách thư pháp hiện đại” là hai khái niệm khác nhau về mặt căn bản. Loại thứ hai là thư pháp, nhưng trên bình diện thị giác, có lúc là trên bình diện quan niệm có sự khác biệt với truyền thống thư pháp. Loại thứ nhất không phải là thư pháp nhưng có nguồn từ thư pháp, từ thư pháp diễn hóa thành, không kể là hình thức hay ở nội hàm, đều giữ một mối quan hệ mật thiết đối với thư pháp.
Giữa hai loại tác phẩm này còn có những tác phẩm mang tính chất quá độ, Ví dụ như tác giả trong quá trình sáng tác một tác phẩm nào đó lấy văn tự làm xuất phát điểm, nhưng trong quá trình viết kết cấu đã biến hình quá lớn, cho dù đã qua việc gợi ý nhưng người đọc vẫn không thể nhận biết được văn tự. Văn tự trong tác phẩm này đối với tác giả mà nói chính là dựa trên nền tảng kết cấu, nhưng đối với người tiếp nhận thì tác phẩm gần như không có sự khác biệt với tác phẩm phi văn tự. Ý nghĩa của văn tự trong tác phẩm loại này có lúc đối với người tiếp nhận nẩy sinh ảnh hưởng nhất định. Loại tác phẩm này là tác phẩm ở giữ những tác phẩm thư pháp phong cách hiện đại và “Gốc từ thư pháp”. Những sáng tác hiện đại của Nhật Bản trong thể loại này chiếm một số lượng không nhỏ như “Hoa”; “Nãi” 1957 của Tỉnh Thượng Hữu Nhất.

Còn một số tác phẩm không phải là viết Hán tự nhưng trên mặt thị giác cho người xem liên tưởng đối với văn tự, như Bạch Để “Phi Hán tự thư pháp hệ liệt” (1995) “Trầm Ức” (1992), Tăng Lai Đức “Phi văn tự hệ liệt” (1997)… Ở đây có hai khả năng (1) Tác giả trên thực tế là viết Hán tự nhưng vì mục đích cường điệu tính trừu tượng trong tác phẩm mà cố ý giấu đi nguồn gốc; (2) Tác giả là thư pháp gia, đặc biệt nẫn cảm đối với hình thức cảm, cho dù trên mặt chủ quan là sáng tác tác phẩm trừu tượng, nhưng lại vẫn thể hiện những hình thức của tác phẩm thư pháp. Trong đó (1) và tính chất của những tác phẩm quá độ hoàn toàn là một, chỉ có điều ý đồ trong việc xác định tiêu đề không giống nhau.

Việc quy loại đối với những tác phẩm mang tính chất quá độ có phần mơ hồ nhưng loại tác phẩm quá độ này có thể gợi mở sự khác biệt đối với những loại tác phẩm khác. Mơ hồ trở thành một cánh cửa để hiểu tác phẩm đó. Việc tồn tại của loại hình tác phẩm này không gây trở ngại gì tới việc thảo luận tới những tác phẩm điển hình khác.

(Còn tiếp …)

Tác giả: Khâu Chấn Trung
Bái Mai Tử chuyển dịch từ tiếng Trung Quốc

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
NGƯỜI ĐĂNG
 
Viết phản hồi