Art from Calligraphy – part 2

 
Đăng bởi: 17 December 2008
views  159 lượt xem
CHIA SẺ:

Kỳ 2: Phân loại tác phẩm

Trước hết những tác phẩm thuộc “Art from “calligraphy” có thể tạm phân ra làm 3 loại như sau:

1. Quá trình viết một lần phi văn tự kết cấu. Bỏ qua văn tự, hoặc văn tự đã không còn nhận ra được, nhưng đảm bảo quá trình viết một lần như “Kinh Vĩ NO. 5” của Trương Đại Ngã. Lạc Tề “Tác phẩm” Chung Hy “Vô đề”… Tác phẩm loại này có những động cơ đặc thù trong sang tác. Khi đã rời khỏi sự gò bó của văn tự, các loại công cụ, các loại hình thức thủ đoạn đều có thể sự do sử dụng, những tác phẩm này bản thân đã tự giác hạn định mình trong “quá trình viết” đây là những tác phẩm không thỏa mãn với những phong cách truyền thống nhưng khách quan mà nói thì dựa nhiều trên tác phẩm truyền thống. Những tác phẩm này trong sự vận động của đường nét thì lưu giữ nhiều đặc điểm của thư pháp nhưng đồng thời nhận được sự tự do trên phương diện không gian. Những người không biết được chữ Hán có thể quy chúng vào Thư pháp, những người hiểu rõ thư pháp cũng vui vẻ thừa nhận nó có quan hệ với Thư pháp. Bởi không sử dụng những thủ đoạn khác mà chỉ sử dụng bút lông và quá trình viết chữ. Những tác phẩm này trên bình diện nghệ thuật đương đại vẫn luôn có một khuôn mặt độc đáo của mình. Những tác phẩm thuộc loại này của Nhật Bản đã không hiếm những tác phẩm ưu tú như “Tác phẩm F” của Tỉnh Thượng Hữu Nhất, Tỉ Điền Tỉnh Nam Cốc tác phẩm “64-2”. Thập niên 80 những tác phẩm loại này vẫn không thiếu những tác phẩm xuất hiện, Như Đại Dã Hư Chu “Tác Phẩm” (1980) Tiểu Lâm Tú Vân “Tác phẩm” (1970).

2. Lợi dụng đồ thức, kỹ xảo hay từ đồ thức và kỹ xảo của thư pháp nhận được linh cảm mà chế tác thành các tác phẩm trừu tượng. Những tác phẩm thuộc loại này không nhất định giữ lại đặc tính viết một lần, công cụ cũng không chịu một hạn chế nào, có thể thể tính vào những thủ đoạn kux thuật của tác phẩm thư pháp. Bao gồm những tác phẩm trên mặt phẳng và cả những tác phẩm nghệ thuật đa chiều. Có một số tác phẩm có đồ thức được xuất phát từ Thư pháp, có điều từ khởi điểm tới khi hoàn thành tác phẩm có khoảng cách khá xa nhau. Như những tác phẩm tranh sơn dầu của Triệu Vô Cực, tuy nhiên vận động cảm trong bút pháp của tác phẩm cực kỳ mạnh mẽ, nhưng đã cách khá xa so với bút pháp của thư pháp. Nhưng mỗi khi Triệu Vô Cực nói tới ý tưởng của những tác phẩm của mình đều nhắc tới ảnh hưởng của thư pháp đối với tác phẩm. Những loại tác phẩm này số lượng khá nhiều, từ thủ pháp, đồ thức đều rất phong phú. Như Vương Xuyên “No. 4 1995” đã vận dụng cách viết , cách bạt mực, in, nhiễm những những đường nét của bút trong tác phẩm vẫn chiếm vị trí độc lập và nổi bật lên. Trần Quang Vũ và Lý Hoa Sinh đã vận dụng những bút pháp cơ bản của thư pháp để cấu thành tác phẩm, mầu sắc và các hình ô được làm khung đáy cho tác phẩm. Như Khâu Trấn Trung “Biến đổi của R” mượn những đường nét, và phương pháp chồng điệp đa tầng (thủy mặc). Có những tác phẩm thì đã loại bỏ hoàn toàn quá trình viết, lấy văn tự hoặc những trích đoạn của văn tự làm nền tảng cơ bản của việc tạo hình, như Chu thanh Sinh “Phỏng Nhan Chân Khanh “Tế Điệt cảo” (2000). Lý Tích Kỳ, “Đại Thư pháp”

3. Lợi dụng một công đoạn nào đó của việc sáng tác thư pháp (như quá trình viết hoặc những tác phẩm thư pháp đã hoàn thành được chế tác thành những tác phẩm quan niệm. Như Khưu Trí Kiệt “Viết 1000 lần Lan Đình Tự” trên một trang giấy trắng đã lâm vô số lần “Lan Đình Tự” cho đến khi trang giấy đó đã biến thành một trang giấy đen, hoàn toàn không còn nhận ra được bút tích của tác phẩm. “Động cơ thư pháp” của Trương Cường. Tác giả đã viết trên giấy cung một nội dung, một người khác kéo giấy vận động tùy ý, cùng hoàn thành quá trình viết, từ đó đạt được những “dấu vết” không thể dự đoán, như “tự cầu tổ hợp” của Vương Nam Minh đem những tác phẩm thư pháp đã được viết xong vò thành những hình cầu bằng giấy, tiếp tục lợi dụng nhưng hình cầu đó trở thành tác phẩm xắp đặt. “Cấu thành lần 2” là một trong những phương pháp sáng tác những loại tác phẩm này. Dán, ghép là một điển hình cho việc “Cấu thành lần 2”. Lâm Tính Thành, Lạc tề… đã sáng tác khá nhiều tác phẩm loại này vào thập kỷ 80.

Loại tác phẩm thứ 3 này được bắt đầu từ cấu tứ, phần lớn đều có tính quan niệm rất rõ ràng. Những tác phẩm thuộc loại 1 và 2 đồng thời nhận được sự đánh giá của thư pháp và nghệ thuật đương đại. Đây là một tiêu chuẩn song trùng, vô cùng hà khắc, bởi nó đối diện với những vấn đề kinh điển như đường nét, tính chất không gian và tính sáng tạo (độc sáng). Ở hai phương diện này, những kiệt tác vô cùng nhiều, nhưng đó lại là một lĩnh vực có tính đối kháng hết sức mạnh me,những tác phẩm thành công có khả năng sản sinh ảnh hưởng tới thư pháp và đối với vả những tác phẩm ở bình diện nghệ thuật đương đại, nghệ thuật đa chiều. Tác phẩm thuộc loại hình 1 và 2 thì hình thức ngôn ngữ chiếm vị trí quan trọng, nhưng đồng thời cũng có tính quan niệm nhất định. Ý nghĩa của thư pháp truyền thống đối với loại hình tác phẩm 3 chỉ là công cụ, rất ít đi tới những vấn đề thuộc lĩnh vực thư pháp, cho nên ảnh hưởng đối với thư pháp rất nhỏ, nhưng nó có tác dụng như mối liên hệ của thư pháp đối với nghệ thuật đương đại, nhưng đồng thời cùng đưa tới những tác phẩm mới, những con đường mới cho nghệ thuật đương đại.

(Còn tiếp …)

Tác giả: Khâu Chấn Trung
Bái Mai Tử chuyển dịch từ tiếng Trung Quốc

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
NGƯỜI ĐĂNG
 
Viết phản hồi