Nghệ thuật Thư pháp trên đất nước Hàn Quốc

 
Đăng bởi: 8 August 2009
views  2,343 lượt xem
CHIA SẺ:

Cùng được hình thành từ những tổ hợp đường nét trong khối vuông, cùng để biểu đạt một ý nghĩa đặc thù nào đó, người Hàn Quốc từ khoảng thế kỷ thứ 2 hoặc thứ 3 sau công nguyên đã bắt đầu sử dụng chữ Hán để viết trong giao tế, tuy nhiên ngôn ngữ riêng của họ thuộc một hệ thống hoàn toàn khác. Mặc dù từ sau năm 1446 người Hàn quốc đã sáng tạo ra chữ cái của riêng mình, nhưng chữ Hán vẫn được sử dụng như một thứ văn tự quan phương chính thức cho đến tận cuối thế kỷ 19. Thư pháp Hàn Quốc truyền thống vẫn sử dụng chữ Hán, không phải chữ Hàn.

Thư pháp chữ Hàn Quốc khá phổ biến ngày nay

Thư pháp chữ Hàn Quốc khá phổ biến ngày nay

Dưới ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, Thư pháp ở Hàn quốc có một quan hệ mật thiết gắn bó với hội họa, thậm chí có người cho rằng, từ góc độ mạnh mẽ mà uyển chuyển hài hòa trong bút pháp, chính hội họa Hàn Quốc lại chịu ảnh hưởng rất lớn của Thư pháp. Cho nên người ta thường treo một bức Thư pháp trên tường hay trong phòng mà thưởng thức giống như thưởng thức một bức tranh thậm chí trên với trên từng điểm họa với những nét độc đáo rất riêng qua việc dùng mực thế nào, bố cục làm sao, phong cách, bút pháp, thần vận v.v. không khác gì thưởng thức bình luận một tác phẩm hội họa. Một bức tranh chữ đẹp ngoài việc được tạo nên từ sự bố trí các nét các chữ hài hòa một cách có quy luật, mà còn được toát lên từ sự đan xen, giao hòa của bút lực, của chất liệu, của các kỹ thuật viết như hành trú, đình đề, đốn tỏa trên cơ sở sự vi diệu của cảm giác từ đôi tay với tinh thần và tình cảm nghệ thuật của tác giả. Tất cả tạo nên một bức Thư pháp với mỹ cảm trong sự hài hòa tinh tế.

Thư pháp và hội họa hài hòa trong nhất thể (Tác giả: Lý Hán Sơn)

Thư pháp và hội họa hài hòa trong nhất thể (Tác giả: Lý Hán Sơn)

Từ góc độ kỹ thuật, nghệ thuật Thư pháp được quyết định bởi kỹ xảo được vận dụng và thần vận được biểu hiện qua đầu ngọn bút từ sự rung cảm của người viết. Việc đưa ra những kết cấu trên cơ sở bố trí tổ hợp các nét với nhưng thần thái khác nhau, hay sau khi khởi bút và đã đi bút thành nét không được tô thêm hay bổ sung, hoặc quan trọng nhất là sự chú trọng vào phân gian bố bạch hợp lý, hài hòa mà thậm chí phải kinh qua nhiều năm mới đạt được là yêu cầu cơ bản của việc viết một tác phẩm Thư pháp thực sự. Và để đạt được điều đó, sự thành thục về kỹ pháp và bồi dưỡng về thẩm mỹ và rèn luyện về tinh thần là những điều không thể thiếu. Và chính vì thế, việc học Thư pháp ở Hàn Quốc xưa chỉ tồn tại trong tầng lớp thượng lưu thì nay đã trở nên phổ biến và được coi như một việc có thể bồi dưỡng nhân tài hay rèn luyện phẩm chất tinh thần tình cảm cho tất cả những ai muốn truy cầu nghệ thuật hàn mặc ấy. Thư pháp ban đầu cũng chỉ là viết chữ đơn thuần nhằm trao đổi thông tin trong giao tế, nhưng sau đó tách xa dần với việc viết lách thông thường và được nâng cao thành một nghệ thuật đẳng cấp bao hàm nhiều ý nghĩa, kiến thức, tư tưởng và triết lý nhân sinh.

Thư pháp Kim Ứng Hiển

Thư pháp Kim Ứng Hiển

Cũng giống như những bộ môn nghệ thuật khác, năng khiếu, độ mẫn cảm trong Thư pháp đến một cách tự nhiên. Mỗi điểm, mỗi nét trong một chữ tượng trưng cho hình thức của một vật trong tự nhiên. Các Thư pháp gia xưa của Hàn Quốc cũng như các nhà Thư pháp trong lịch sử Trung Quốc, họ đều ý thức được một điều giống nhau, mỗi cái cây có một sinh mệnh riêng, cái mỗi cành cũng có một sinh mệnh của nó, mỗi một điểm một nét khi viết của một bức Thư pháp đẹp, bản thân nó cũng đã tồn tại một sức sống riêng. Điều này chính là sự khác biệt cơ bản giữa chữ viết tay và chữ ấn loát, và đó cũng chính là khởi điểm của sự khác biệt giữa một Thư pháp gia thực sự với một người thợ viết đơn thuần. Ở các họa gia trong hội họa cũng vậy.

Sử dụng công cụ gần như hoàn toàn giống với các họa gia thủy mặc, công cụ mà các nhà Thư pháp sử dụng chính là những cây bút tốt, các loại giấy (lụa) tốt, chủng loại mực tốt và chiếc nghiên phù hợp, giống như người Trung Quốc vẫn gọi bằng một cái tên khả ái, đó là “văn phòng tứ bảo” hay bình dị hơn là “văn phòng tứ hữu”. Sự lựa chọn đối với những công cụ ấy của các nhà Thư pháp Hàn Quốc cũng hết sức tinh tế và cẩn thận. Họ đều hiểu được thế nào là “tiên tất lợi kỳ khí”.

Nghệ thuật Thư pháp ở Hàn Quốc đã hình thành từ rất lâu đời, có thể tính bắt đầu từ sơ kỳ thời Tam Quốc ở Trung Hoa. Theo những cứ liệu lịch sử, văn tự và văn học Trung Quốc đã được giảng dạy trong thư viện trong vương thất hay trong các học đường chính thống do quốc gia lập nên. Lịch sử Thư pháp có thể coi như bắt đầu từ đó mà phát triển, và rất nhiều thế hệ các nhà Thư pháp qua các triều đại, các thời kỳ lịch sử đã không ngừng nỗ lực cống hiến cho sự hưng thịnh của Thư pháp Hàn Quốc. Chỉ tiếc một điều, trải qua nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, các tác phẩm có giá trị đến nay đã không còn nhiều. Đặc biệt cuối thế kỷ 16, trong cuộc chiến tranh với Nhật Bản kéo dài liên miên, nhiều di sản văn hóa bị mất mát, xâm hại và bị phá hủy nghiêm trọng, trong đó có Thư pháp. Các tác phẩm thư pháp có giá trị nghệ thuật đỉnh cao từ đó đổ về trước đến nay còn không đến con số 20.

Cho đến thời kỳ độc lập, do vẫn sùng bái văn hóa Đường triều của Trung Quốc, mà từ đó cũng xuất hiện nhiều nhà Thư pháp trứ danh như Kinh Sinh, Thôi Chí Viễn. Thể chữ của họ về cơ bản đạt trình độ không kém gì những danh gia Thư pháp đời Tùy như Âu Dương Tuân, Ngu Thế Nam. Một nhân vật của Thư pháp Trung Họa mà người Hàn Quốc cũng vô cùng ngưỡng mộ, đó chính là Vương Hy Chi, các tự thiếp của Vương được người đương thời lâm mô, học tập rất phổ biến. Nhưng bắt đầu từ thời kỳ Tân La đến thời kỳ Cao Ly, thư thể được ưa chuộng và lưu truyền rộng rãi hơn cả lại là khải thư của Âu Dương Tuân. Cho đến tận quãng năm 1350, lối chữ khải hành và hành vô cùng điển nhã của Triệu Mạnh Phủ đời Nguyên du nhập vào Hàn Quốc và trở nên thịnh thế một thời ở xứ sở này. Từ đó đến nay, Triệu thể vẫn còn ảnh hưởng rất đậm nét đến thư phong của người Hàn Quốc.

Hoàng dình kinh - Một trong những bia thiếp của Vương Hy Chi mà người Hàn Quốc đương thời sùng bái

Hoàng đình kinh - Một trong những bia thiếp của Vương Hy Chi mà người Hàn Quốc đương thời sùng bái

Giai doạn đầu thời kỳ Cao Ly, thế lực thống trị của Hàn Quốc lúc bấy giờ mô phỏng theo triều đình Trung Quốc, áp dụng chế độ khoa cử tuyển chọn quan văn qua khảo thí chính thức theo chế độ luận đề mà làm văn, và đương nhiên chữ viết trở thành tiêu chí hàng đầu cho việc tuyển lựa. Và cũng từ đó, việc luyện chữ càng trở thành một hứng thú hàng bác nhã của quan chức và nhân sỹ đương thời. Không những thế, triều đình còn tuyển riêng các chức quan trông coi phụ trách việc viết lách trong cung phủ, và việc chữ nghĩa viết lách được chú trọng hơn bao giờ hết. Chính thời kỳ này đã để lại biết bao nhiêu các tác phẩm Thư pháp kinh điển của Hàn Quốc trên nhiều mảng bao gồm bia mộ, ấn bản khắc gỗ, kinh sách chép tay, văn khắc trên tháp phật và bia đá trong các chùa chiền tự viện. Thời kỳ này nổi tiếng có Lý Nham, Lý Tề Hiền, Cụ Túc Đạt và Hàn Doãn.

Thư pháp Triệu Mạnh Phủ đến giờ vẫn được nhiều người Hàn Quốc ưa chuộng học tập

Thư pháp Triệu Mạnh Phủ đến giờ vẫn được nhiều người Hàn Quốc ưa chuộng học tập

Thư pháp thời kỳ Triều Tiên ban đầu sùng bái thư thể của Triệu Mạnh Phủ, Triệu thể mà Thế Tông thứ 3 là An Bình Đại Quân (1418-1453) viết ra có thể nói đạt đến đỉnh cao khó sánh. Họa gia cùng thời cũng rất nổi tiếng với ông cũng đã vinh dự được ông đề chữ trên bức họa nổi tiếng của mình là “Mộng du đào nguyên đồ”. Hàn Lô (1543-1605), một nhà Thư pháp đương thời cũng nổi tiếng không kém trong lịch sử Thư pháp Hàn Quốc với nghệ danh Thạch Phong Nhất Nhất, cả đời chỉ tông họ Vương, viết Vương thể đến mức tinh túy, nhưng tiếc rằng ông lại chưa sáng tạo được lối chữ của riêng mình. Đầu thế kỷ 16, với sự đi xuống của xã hội và đời sống nhân dân , một phong cách viết chữ mà bút lực yếu ớt, nhu nhực, thiếu đi sức tưởng tượng xuất hiện, Thư pháp Hàn Quốc bắt đầu rơi vào thời kỳ suy thoái.

Sang tận thế kỷ 19, người Hàn Quốc quay lại với phong thái chữ của thư gia Trung Quốc Văn Trưng Minh mà họ đã lãng quên suốt mấy thế kỷ trước đó. Điều này bắt nguồn từ quan hệ mật thiết trở lại kéo theo sự giao lưu văn hóa của người Hàn với triều Thanh. Người Hàn đã từng lấy đó làm con đường tiến cử chính mình với triều Thanh như một cứu ứng cho tương lai quốc gia mình trở nên hiện đại hơn.

Thư pháp Kim Chính Hỷ - người nổi tiếng với “Thu sử phái”

Thư pháp Kim Chính Hỷ - người nổi tiếng với “Thu sử phái”

Thư pháp gia nổi tiếng nhất thời đại Triều Tiên phải kể đến Kim Chính Hỷ phái thực học, vừa là một nhà thư pháp, vừa là một học giả, ông sáng tạo ra một phong cách mà người đời gọi là “Thu sử phái”. Lối của ông thoát thai khỏi Lệ thư của Trung Quốc, bố cục đầy họa cảm, hài hòa trong chính sự mất cân xứng trong khi bút lực lại khẳng khái vô cùng, hạ bút đầy sức mạnh. Điều đó làm cho danh tiếng của ông còn mãi đến ngày nay trong Thư pháp sử Hàn Quốc.

Thư pháp hiện đại của danh gia Doãn Hoán Thù

Thư pháp hiện đại của danh gia Doãn Hoán Thù

Những năm 20, 30 của thế kỷ 20 vẫn là thời kỳ Thư pháp truyền thống của dân tộc Triều Tiên, nhưng sau đó bắt đầu chịu ảnh hưởng của Thư pháp Nhật Bản. Sau thế chiến thứ hai kết thúc, Thư pháp truyền thống trở thành một môn nghệ thuật vẫn luôn được bảo tồn, nhưng với sự xuất hiện của các trào lưu Thư pháp mới, Hàn Quốc bắt đầu có Thư pháp hiện đại và Thư pháp chữ Hàn Quốc cũng được truyền bá, sử dụng phổ biến. Trong con mắt và nhãn quan người Hàn Quốc, Thư pháp là một nghệ thuật đỉnh cao, luôn được tôn sùng và kính trọng. “Thư pháp” người Hàn Quốc gọi là “Thư nghệ”.

Xuân Như dịch và tổng hợp
(Nguồn từ: Xuân Như Art)

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
NGƯỜI ĐĂNG
Xuân Như - Vũ Thanh Tùng - Xây dựng và quản trị Mạng Thư Họa Việt Nam, chịu trách nhiệm quản trị hệ thống, biên tập nội dung Chuyên san và Diễn đàn. Website: http://xuannhu.thuhoavn.com
 
Viết phản hồi