Đôi điều tâm sự của thế hệ học trò trước việc quần nho khẩu chiến

 
Đăng bởi: 2 July 2009
views  869 lượt xem
CHIA SẺ:

Trước khi đưa ra ý kiến của mình, tôi cứ phải nhận luôn: Tôi là học trò của các thầy. Thấy các thầy “cãi nhau” hăng hái quá, tôi cũng xin phép thay mặt thế hệ học trò mà bày tỏ ra đây đôi điều.

Trước tiên, xin phép không dám bình luận về nhân cách nhân phẩm hay những ân oán cá nhân của ai, và tôi cũng không biết đâu mà bình luận. Tôi chỉ xin góp vài ý kiến về vấn đề chuyên môn mà thôi. Và cũng xin nói luôn, chắc là có đôi chỗ kém người, hơn nữa lại mới chỉ là thế hệ học trò, nên có gì sai sót mong các thầy góp ý cho, được thế thì lấy làm vinh hạnh lắm!

Đầu tiên, “kính lão đắc thọ”, tôi xin hầu chuyện thầy Phan Văn Các. Đáng lí ra thì tôi không có đủ tư cách để bàn chuyện chữ nghĩa với thầy, nhưng tôi có cái may mắn đã được nghiên cứu về văn tự học, cũng như được nghe giáo sư Vương Lập Quần (đại học Hà Nam – Trung Quốc) giảng đúng vào vấn đề văn tự này. Thế nên cứ xin lấy những điều học được mà trao đổi với thầy. Thầy có nói về triện thư, và có đoạn như sau: “Kiểu chữ triện của nhà Tần trở thành dạng chữ viết chính thức cho toàn Trung Quốc dưới thời nhà Tần và tiếp tục được sử dụng rộng rãi để khắc trang trí trên các ấn tín dưới thời nhà Hán.” Xin được chú thích rõ ràng như thế này: theo những phát hiện khảo cổ mới đây của Trung Quốc, người ta tìm được những thẻ tre viết chữ Lệ (loại chữ ra đời sau chữ triện) từ thời chiến quốc. Giáo sư Vương Lập Quần cho rằng, việc dùng chữ tiểu triện (hay Tần triện) để thống nhất văn tự của Tần Thủy Hoàng là một chính sách thất bại, do chỉ có triều đình sử dụng mà dân không dùng. Lí do cũng dễ hiểu, đó là do chữ Lệ đã ra đời, cách viết đơn giản dễ đọc hơn, nên dân chúng thích sử dụng. Một thể loại văn tự có sức sống đến đâu là do quá trình vận động tự nhiên của lịch sử quy định, chứ không phải do ý muốn chủ quan của một người (cụ thể ở đây là Tần Thủy Hoàng). Vì vậy, thực ra nếu nói là “kiểu chữ triện của nhà Tần trở thành dạng chữ viết chính thức cho toàn Trung Quốc dưới thời nhà Tần” thì e rằng cũng chưa chuẩn xác lắm. Hơn nữa, “tiếp tục được sử dụng rộng rãi để khắc trang trí trên các ấn tín dưới thời nhà Hán” cũng không đúng (không rõ phóng viên báo Thể thao Văn hóa có ghi chép sai sót chỗ nào không). Chữ triện vẫn được dùng để khắc ấn triện, không chỉ thời Hán mà đến tận ngày nay, người ta cũng ít dùng các thể chữ khác để khắc triện. Và càng không phải để “khắc trang trí” trên các loại ấn tín. Chữ triện trên các loại ấn KHÔNG PHẢI để trang trí, mà để ghi nội dung con ấn, coi như là một loại chữ kí – tất nhiên là nó phải đạt được giá trị thẩm mĩ nhất định. Vậy cũng xin trao đổi với thầy Các đôi điều về văn tự học như thế. Còn việc thầy có bức thư pháp gây điều tiếng trong giới Hán học và thư pháp, thì tôi không nắm rõ tiền nhân hậu quả, nên không dám bàn. Chỉ thấy tiếc một người đức cao vọng trọng như thầy lại để một việc theo kiểu “qua ruộng dưa cúi sửa giày, qua cây lê đưa tay sửa mũ” này làm ảnh hưởng tới thanh danh!

Bức thư pháp của PGS Phan Văn Các (trái) và của Mã Ngọc Tiên. Ảnh từ TTVH

Bức thư pháp của PGS Phan Văn Các (trái) và của Mã Ngọc Tiên. Ảnh từ TTVH

Tôi cũng xin trao đổi với thầy Trịnh Tuấn vài điều như sau:

Trong bài Nói thêm về việc Có hay không chuyện PGS Phan Văn Các “Đạo” thư pháp của Mã Ngọc Tiên?! được đăng trên trang cá nhân của thầy, thầy có dẫn nhiều kiến thức thư pháp cổ điển ra, có điều, nhiều cái làm học trò này hơi thắc mắc, xin được thỉnh giáo thầy luôn. Thứ nhất, các kiến thức thầy dẫn ra đều theo Nguyên Sa tập hợp từ baidu.com, vậy thì người ta có quyền đặt dấu hỏi về sự chính thống và chính xác của những kiến thức này. Ai cũng hiểu, baidu.com là một CÔNG CỤ TÌM KIẾM, không phải một trang web chuyên biệt về lĩnh vực nào, càng không phải về thư pháp. Vậy thì, dẫn từ baidu.com cũng tức là dẫn từ mọi người thông tin trên web! Giá mà Nguyên Sa lấy thông tin từ những trang web chính thức của Trung Quốc về thư pháp thì sẽ tốt hơn (cái này cũng trách cả Nguyên Sa).

Thứ nữa, cũng xin góp ý về bài dịch của Nguyên Sa luôn. “Lâm” là viết theo một cái gì đó, “mô” là miêu tả theo. Người học thường chú trọng đến phần “lâm”, nhưng trên thực tế, “mô” đóng vai trò cao hơn và hiệu quả hơn “lâm” khá nhiều. Đây chính là câu mà Nguyên Sa dịch và tổng hợp trong bài trên. Tôi không rõ “định nghĩa” về lâm và mô kia được lấy ở đâu, nhưng tôi cũng xin trích từ cuốn Hiện Đại Hán Ngữ Từ Điển (Thương Vụ ấn thư quán xuất bản) ra cái định nghĩa: Mô摹 tức là viết hoặc vẽ theo mẫu, đặc chỉ việc đặt một tờ giấy mỏng lên chữ mẫu hoặc tranh mẫu để tô theo. Định nghĩa này rõ hơn rất nhiều so với cái câu “mô là miêu tả theo” kia. Tương tự, những điều khác mà thầy Tuấn viết còn chưa được rõ ràng lắm thì đều đã được nói trong bài của thầy Quang Duy với tiêu đề “Thôi tôi xin … ” trên thuhoavietnam.com rồi, học trò này xin phép không “lâm mô” lại nữa!

“Trong khi chữ Hán ở Việt Nam đã không còn là chính văn, chữ Quốc ngữ lên ngôi và thư pháp mới (ở đây muốn nói đến thư pháp Tiền vệ) đã và đang nói lên câu chuyện của thư pháp nước nhà, vậy mà, cái bóng của “hậu phong kiến” vẫn đè bẹp không ít người “cố đấm ăn xôi”. Phải chăng, ấy cũng là một cái bệnh khó chữa, ghim sâu vào tiềm thức trong đầu những ai hay thích và tung hê cái của người khác (ở đâu cụ thể là cái của người Tầu), còn cái của mình lại dẻ bỉu chê khinh, để đến nỗi, cái làm theo làm không ra đầu ra đũa, cái của mình cũng chẳng ra môn ra khoai. “Xôi hỏng bỏng không” và cái tiếng thì có “hương” lẫn “mùi” còn phảng phất chưa biết bao giờ mới sạch…”

Trên đây là nguyên đoạn văn cuối cùng trong bài viết của thầy Trịnh Tuấn. Cũng phải xin nói thẳng luôn, việc lâm tập người đời xưa không phải là “tung hê cái của người khác” (mà thực ra, “tung hô” có lẽ mới là từ đúng?!). Trung Hoa là cái nôi của thư pháp, thì việc lâm tập những tác phẩm của Trung Hoa là điều hiển nhiên! Nhật Bản, Hàn Quốc họ cũng luyện theo chữ của người Trung Hoa cả, cũng lâm tập Âu, Nhan, Liễu, Triệu kia mà, đâu có ai bảo thư pháp của họ kém cỏi đâu! Thư pháp nước nhà chẳng ra môn ra khoai thì cũng đúng thôi, nhưng theo thiển ý tôi, không phải do chép lại đồ Tàu mà thành, mà do nhiều nguyên nhân lịch sử vậy! Chẳng lẽ những người học thư pháp cổ điển đều là loại “cố đấm ăn xôi”, là loại bị cái bóng của “hậu phong kiến” đè bẹp, là loại tung hê cái của người khác? Chẳng lẽ cứ viết thư pháp Quốc ngữ mới là có lòng tự tôn dân tộc? Có lẽ thầy Tuấn quá nặng lời đoạn này rồi. Dù gì thì cũng đã từng giấy bút mực nghiên, ai cũng đã từng lắng lòng viết dăm ba con chữ, thì dù muốn dù không cũng cứ được là TAO NHÂN MẶC KHÁCH rồi, đâu có cần phải nặng lời đến nỗi làm tổn hại cả đến cái đại nhã như vậy?

Thầy Tuấn có ca ngợi tác phẩm của Mã Ngọc Tiên mà biếm đi cái bức của thầy Phan Văn Các, tôi cũng xin góp đôi lời. Tác phẩm của họ Mã đúng là khí lực đầy đủ, thể hiện công phu rèn luyện lâu năm, nhưng – cứ theo ý kiến cá nhân tôi – thì cũng chỉ ở mức khá mà thôi. Bố cục khá hài hòa, nhưng cũng đâu phải là chặt chẽ? Còn tác phẩm của thầy Các, có đôi chút non tay thật, cũng vì thầy chỉ chuyên tâm nghiên cứu Hán Nôm, dạo gần đây mới bắt đầu học thư pháp, khi đã (dù cố tình hay vô ý) “lâm” lại một bức khác thì hẳn là không thể đạt đến khí lực của bức chữ gốc rồi. Việc đó, nếu thầy Tuấn cảm thấy mình có thể góp ý, thì cứ góp ý thẳng với thầy Các, nhưng thầy Các cũng có tuổi rồi, xin đừng nặng lời với thầy như vậy, cũng không cần phải lấy thêm một tác phẩm tập nữa của thầy Các để “chứng minh” cho bút lực của thầy làm gì, dù thế nào cứ “kính lão đắc thọ” là hơn.

Thư pháp nước ta có nhiều đặc điểm khác với các nước khác. Đặc điểm đầu tiên là có tới 3 trường phái: Quốc ngữ (có người còn chưa công nhận – cái này xin phép không lạm bàn), Cổ điển và Tiền vệ. Cả 3 đều mới ở giai đoạn chập chững so với các nước đồng văn, và chúng ta còn nhiều việc phải làm, trong đó việc tranh luận cũng là rất cần thiết. Chỉ xin kính mong các thầy tranh luận với nhau một cách thẳng thắn, cụ thể, cẩn thận, để bạn đọc và các học trò có được chút sở thủ. Cũng biết thầy Tuấn mà bàn về thư pháp cổ điển thì có vẻ hơi “trái tay”, nhưng nếu có chỗ sở thủ, thì dù trái tay đến đâu cũng sẽ có người nghe, học trò không băn khoăn chuyện “trái tay” hay “phải tay”. Hi vọng các thầy cùng nhau ngồi lại mà nói cho rõ ràng ra, đừng để thế hệ sau lại tiếp thu những kiến thức còn chưa được chỉnh lí, đính chính, thì tội cho học trò lắm!

Cuối cùng, xin mạn phép mà có đôi lời giáo điều rằng: mọi giải thưởng, mọi triển lãm rồi sẽ qua đi, mọi cuộc tranh luận rồi sẽ đến hồi kết, chỉ có danh tác là vẫn còn nguyên. Chữ của ai là đẹp là xấu, là chân là ngụy, nhiều khi cũng cần phải “cái quan định luận” (định luận sau khi đóng nắp quan tài) rồi mới biết, nhưng chắc là không đến nỗi quá lâu, rồi thời gian sẽ thanh lọc cả thôi. Chi bằng bây giờ về nhà, rửa bút, mài mực, bày giấy, soạn nghiên, mang sách cổ ra đọc, mang chữ cổ ra lâm tập, chưa biết thành danh gia hay không, nhưng cứ là một cái thú tao nhã, ít ra cũng đỡ được chút bụi trần…

Tiểu Bạch – Lê Huy Hoàng

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
NGƯỜI ĐĂNG
Admin: Nếu quý vị muốn đăng tải, chia sẻ bài viết, tài liệu, hình ảnh xin vui lòng gửi về bbt@thuhoavietnam.com hoặc viết bài trên Diễn đàn
 
  • Thế Chi says:

    Thảo luận này qua đã lâu rồi. Tuy có nhận thấy tác giả Tiểu Bạch có một vài chỗ nhận xét chưa thỏa đáng, thì nhẽ ra tôi không nên nói thêm gì nữa. Song, lại nghĩ, biết đâu sau tôi lại có người vào xem, lại tin vào chỗ chưa thỏa đáng của Tiểu Bạch, thì cũng không hay lắm. Nên lại gắng gượng viết vài dòng.

    Chuyện các nhà thư pháp có chỗ chưa bằng lòng với nhau, tôi không bàn ở đây, chỉ xin nhận xét thêm về sự “hầu chuyện” của Tiểu Bạch với PGS Phan Văn Các ở lĩnh vực văn tự.

    Thầy Các có viết như sau: “Kiểu chữ triện của nhà Tần trở thành dạng chữ viết chính thức cho toàn Trung Quốc dưới thời nhà Tần và tiếp tục được sử dụng rộng rãi để khắc trang trí trên các ấn tín dưới thời nhà Hán.”

    Ở dưới góc độ văn tự học, câu này chẳng có gì không thỏa đáng, đến nỗi Tiểu Bạch phải “hầu chuyện” cả.
    Trước khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Nguyên, chữ tiểu triện của nhà Tần chỉ là một trong số rất nhiều loại chữ viết lưu hành trong các nước chư hầu lúc ấy. Mỗi nước có chữ viết riêng, và hệ đo lường riêng. Nên khi Doanh Chính nắm quyền, thấy việc không thống nhất là một tệ nạn, bèn ra lệnh: thư đồng văn (chữ phải giống nhau), xa đồng trục (kích cỡ xe phải giống nhau). Chữ tiểu triện từ địa vị ngang hàng với các loại chữ khác, trở thành văn tự chính thống, quan phương. Vậy nên, cách diễn đạt “Kiểu chữ triện của nhà Tần trở thành dạng chữ viết chính thức cho toàn Trung Quốc dưới thời nhà Tần” là hoàn toàn thỏa đáng.
    Dưới thời nhà Tần, đã có chữ Lệ chưa? Khẳng định là có. Nhưng đó là loại chữ “tục thể”, một thứ chữ không chính thức, thường do các cai ngục cai quản nô lệ sử dụng, nên mới có tên là “Lệ thư”.

    Tính chính thức, được quyết định bởi nhà nước, chứ không phải do số lượng người sử dụng. Ví dụ, ngôn ngữ hành chính quan phương ở Ấn Độ là tiếng Anh. Nhưng dân chúng Ấn Độ, nhất là tầng lớp bình dân, chủ yếu sử dụng tiếng Hindi trong giao tiếp thông thường. Số lượng người nói rất đông.

    Một ý nữa, nếu chữ Lệ không có từ trước đó, thì làm sao nó có thể thay thế chữ Triện ngay sau khi nhà Tần sụp đổ. Mà triều đại Tần thì chẳng dài lâu gì. Kiến thức này, thực ra rất phổ thông và cũ nữa, chẳng mới mẻ đến nỗi, mà Tiểu Bạch có ý cho rằng giáo sư Các chưa cập nhật được thông tin từ “những khảo cổ mới nhất” đâu.

    Ý thứ hai của thầy Các, chữ Triện “tiếp tục được sử dụng rộng rãi để khắc trang trí trên các ấn tín dưới thời nhà Hán”. Bạn trẻ Tiểu Bạch không đồng tình với ba chữ “khắc trang trí”, mà cho rằng, đó là khắc nội dung triện. Bạn nói thế thì đúng rồi, nhưng cũng không phải vì thế mà có thể hạ bút nói thầy Các “không đúng”.
    Tạm không nói đến chuyện ấn Triện có hai loại, nhàn ấn và danh ấn, chứ không phải chỉ mỗi để ký tên, thì tôi e rằng cách bạn hiểu chữ “trang trí” có chỗ khác với thầy Các.

    Tôi chả phải thầy Các để nói hộ được cho thầy, nhưng cụm “khắc trang trí” này có chỗ đa nghĩa:

    -Khắc với mục đích trang trí (cho cái ấn triện), đây là cách hiểu của bạn, và vì thế bạn phê phán thầy Các nói sai.

    -Khắc một cách “trang trí”, tôi có thể hiểu “trang trí” ở đây nghĩa là hình thức đẹp, khi ấy thì biểu đạt của thầy Các cũng không sai đâu, chỉ là không rõ ràng mà thôi.

    Bạn có thể so sánh với cách hiểu cụm “chụp ảnh nghệ thuật” (chụp ảnh với mục đích nghệ thuật; và chụp ảnh một cách có nghệ thuật)

    Bạn có thể không hề đồng tình với cách hiểu của tôi, và kiên quyết rằng cách hiểu của bạn là duy nhất đúng. Cũng tùy bạn thôi. Với tư cách là người lớn tuổi hơn, tôi chỉ nhắc bạn rằng, trầm tĩnh một chút, đừng vội vã kết luận người khác “sai”, khi bạn còn chưa thực sự thấu đáo.

    Bạn còn trẻ, tiền đồ còn rộng rãi lắm. Trân trọng.

    VA:F [1.9.22_1171]
    Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
    VA:F [1.9.22_1171]
    Rating: 0 (from 0 votes)
    Trả lời
  • Trần Trọng Dương says:

    @ Tiểu bạch:
    Tôi không phải là nhà Nho gì cả. Bạn nói thế là làm tổn thương đến các nhà Nho đấy!

    @ Đến những ai đó dùng chữ “Sĩ phu Bắc Hà” (or something like that), các cụ “sĩ phu” đó cũng đã qua đời từ lâu rồi. Không nên đánh đồng các khái niệm.

    VA:F [1.9.22_1171]
    Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
    VA:F [1.9.22_1171]
    Rating: 0 (from 0 votes)
    Trả lời
  • TIỂU VŨ says:

    Đọc và ngẫm nghĩ Thư Pháp là sân chơi hay là chiến trường để đấu đá…có sự góp ý thẳng thắn như Bác Lê thật đáng quý biết bao. Bài này Tiểu Vũ xin mượn để đưa lên blog riêng cho chia sẻ cùng bạn bè! Xin ý kiến của Bác?

    VA:F [1.9.22_1171]
    Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
    VA:F [1.9.22_1171]
    Rating: 0 (from 0 votes)
    Trả lời
  • Xin có bài trả lời Lê huynh, đã gửi vào mail của BBT. Đa tạ Lê huynh chỉ giáo!

    VA:F [1.9.22_1171]
    Rating: 0.0/5 (0 votes cast)
    VA:F [1.9.22_1171]
    Rating: 0 (from 0 votes)
    Trả lời
Viết phản hồi