Tranh dân gian Việt Nam

 
Đăng bởi: 28 Tháng Mười 2007
views  3 823 lượt xem
CHIA SẺ:
TAGGED:

danhghen Tranh dân gian Việt NamỞ thôn quê, trong các gia đình nông dân, tranh dán từ ngoài cổng vào đến trong nhà. Hoặc là ở hai cánh cổng, hoặc ở hai cánh cửa dán hai bức tranh “Tiến Tài” – “Tiến Lộc” đối nhau (Tấn tài – Tấn lộc) (Hình cuối cùng của Lucifer post lên) Có gia đình dán ngoài cổng hai bức tranh “Vũ Đình”, “Thiên Ất”. Tranh vẽ hai vị thần võ tướng, mang vũ khí ngụ ý dùng vũ lực trấn áp tà ma, quỷ quái. Phần lớn các gia đình thì dán hai bức “Đại Cát”-“Nghinh Xuân” – ấy là tranh Gà để cầu may và xua đuổi ma quỷ. Ở trong nhà hoặc dán vài bức tranh ưa thích nhất, hoạc dán la liệt các tranh đăng đối từng đôi một Vinh Hoa, Phú Quý, Gà đàn, Lợn đàn, Đánh ghen, Hứng dừa.. Phổ biến nhất vẫn là treo tranh Tứ bình, Tố nữ, Lý ngư vọng nguyệt

Trong các gia đình trí thức nho học khác giả thời xưa, thường treo các loại tranh dân gian chọn lọc mang triết lý sống và khát vọng của họ. Đó là tranh “Anh hùng độc lập” kiểu Nho giáo, vẽ con chim ó đậu trên mỏm đá cao, hoặc tranh “Tùng cúc”, “Tam đa” (Tượng trưng Phúc, Lộc, Thọ), Tranh “Lý ngư vọng nguyệt” (Cá chép trông trăng), hay bộ tranh “Tứ quý”, “Tứ bình”..

Còn ở nơi thờ cúng linh thiêng (điện, đền, miếu) người ta treo nhiều loại tranh thờ khác nhau: Tranh “Ngũ Hổ”, “Hắc Hổ thần tướng”, “Bà Chúa thượng ngà”, “Ông Hoàng cầm quân”, “Tam Thanh”, “Thượng Thanh”, “Rồng Phượng”, “Ngọc Hoàng”, “Ông Thiện”, “Ông Ác”

I. Nguồn gốc tranh dân gian Việt Nam:

Bắt nguồn xa từ nghệ thuật nguyên thuỷ, nghệ thuật tranh dân gian đã nảy sinh từ thời xa xưa… Xuất hiện từ thời Lý (1010-1225) đến nhà Hồ (1400-1414), được duy trì, phát triển mạnh dưới thời Hậu Lê (1533 -1788), song song với việc in và phát hành tiền giấy, cũng như cùng với Đạo Phật thịnh hành.

Năm 1396, vào cuối thời Trần, Hồ Quý Ly cho phát hành tiền giấy gọi là “Thông báo Hội Sao”. Các đồng bạc đều in hình vẽ khác nhau tuỳ theo giá trị của chúng: rong, sóng, mây, rùa, lân, phượng và rồng. Nghệ thuật vẽ tiền đạt đến đỉnh cao, kỹ thuật khắc in rất tinh tế, từng tờ in đều hết sức chuẩn xác. Nhưng kỹ thuật in không là độc quyền của Nhà Nước. Vẫn có người như Nguyễn Nhữ Các trốn vào núi Thiết Sơn in tiền giả.

Và mấy thập kỷ sau, Lương Nhữ Hộc (người Hải Dương) đỗ Thám Hoa đời Lê Thái Tông (1434-1442) đi sứ nhà Minh có tìm hiểu thêm về nghề in ván gỗ của Trung Quốc. Về nước ông cải tiến ván khắc và in cổ truyền của ta, ròi dạy cho dân làng Hồng Lục và Liễu Tràng quê mình. Lương Nhữ Hộc trở thành “Tổ sư” nghề in khắc ván từ đấy.

Thế Kỷ XVII tranh dân gian phát triển khá mạnh. Chẳng những được người dân thôn quê ưa thích, tranh dân gian còn thâm nhập tự nhiên vào nhà quyền quý, khá giả ở kình thành. Nhà thơ Hoàng Sĩ Khải (người làng Lai Xá, Hà Bắc) khi tả cảnh Tết ở Thăng Long, trong bài thơ nổi tiếng “Tứ thời khúc vịnh” đã ghi lại:

“Chung Quỳ khéo vẽ nên hình
Bùa đào cấm quỷ phòng linh ngăn tà
Tranh vẽ gà cửa treo thiếp yểm
Dưới thềm hoa điểm Thọ Dương”

Hình “Chung Quỳ” và bức “Bùa Đạo” mà nhà thơ nói đến ở đây là hai bức vẽ thần Thân Thư và Uất Luật (Còn gọi là Thần Trà và Uất Luỹ) có thể xua đuổi tà ma theo quan niệm dân gian bấy giờ, về hình tượng và ý nghĩa có thể liên tưởng đến bức tranh “Ông tướng” canh cổng sau này. Bức tranh “Gà” cũng biểu tượng cho quan niệm đó – gà gáy lên sẽ xua tan đêm tối cùng tất cả ma quỷ, giữ yên vui cho mọi nhà. Vì thế, tranh Gà rất phổ biển trong các dùng tranh dân gian của ta, từ tranh Đông Hồ, Hàng Trống, đến Kim Hoàng

Sang thế kỷ XVIII, tranh dân gian phát triển khá mạnh. Theo gia phả dòng họ Nguyễn Đăng, một họ lớn làm tranh ở trung tâm sản xuất tranh dân gian Đông Hồ thì dòng họ này đã 20 đời làm nghề in tranh, tức trải qua trên dưới 500 năm, tương đương thời gian mà Hoàng Sĩ Khải nói đến các bức tranh “Gà”, “Chung Quỳ”, “Bùa đào”.

Những hiện vật lưu giữ được tại Viện Bảo Tàng lịch sử Việt Nam, trong số ván khắc tranh Hàng Trống còn giữ được có các ván khắc mang kí hiệu I.5484a.b.c.. khắc cả hai mặt, đề tài lấy trong kinh Phật, tích truyện cổ. Mặt ván có khắc niên đại “Quý Mùi lục nguyệt khởi Minh Mệnh tứ niên” (Năm Quý Mùi, tháng Sáu, tức năm Minh Mệnh thứ tư) – tức là khắc vào năm 1823.

Đến thời Pháp thuộc, do ảnh hưởng của thời cuộc, giấy dó không có, giấy báo cũng hết, tranh dân gian phải in trên giấy học sinh đã viết với số lượng ít, lại in rất xấu. Đến nay chỉ còn làng tranh Đông Hồ (Hà Bắc) còn giữ được nghề cho đến sau này, với tính cách là một nghề phụ thủ công, chủ yếu làm tranh địêp và chủ yếu là hàng xuất khẩu.

II. Tranh dân gian Việt Nam có thể xếp vào hai dòng tranh lớn:

  • Tranh Đông Hồ: loại tranh sản xuất ở làng Đông Hồ. Loại tranh này in bằng bản khắc gỗ, in nhiều màu, mỗi màu một bản khắc riêng, theo lối khắc tách màu, in chồng khớp lên nhau trên giấy dó quét điệp trắng, phủ màu hoa hiên hoặc vàng hoa hoè.
  • Tranh Hàng Trống là loại tranh sản xuất ở khu vực phố Hàng Trống (Hà Nội) hoàn toàn vẽ bằng tay, hoặc in nét đen rồi tô màu bằng tau theo lối vờn đậm nhạt.

III. Kỹ thuật chế màu

Làng tranh Đông Hồ:

  • Màu trắng lấy từ vỏ điệp
  • Màu đỏ lấy từ sỏi non (đá ong non) ở vùng trung du Hiệp Hoà (Hà Bắc)
  • Màu xanh lấy từ lá cây Chàm (người Tày, Nùng vẫn dùng để nhuộm màu chàm). Rỉ đồng chế màu xanh từ hoa lý, lá mạ tới màu xanh nước biển.
  • Vàng hoa hoè: Hoa hoè là một loại hoa thơm, nhỏ có thể pha nước uống như uống trà, có tác dụng giải nhiệt.
  • Màu đen chế từ than lá tre khô. Ở Đông Hồ, màu đen dùng để in tranh đều được pha với hồ nếp.

Tranh Hàng Trống:

  • Màu đỏ: đỏ son, điều (đỏ tím), cánh quế (đỏ tím thẫm), cánh sen (hồng tươi), hoa đào (hồng mát)
  • Màu vàng: vàng nghệ (vàng thẫm), hoàng yến (vàng nhạt)
  • Màu xanh có xanh lục, xanh lam
  • Màu đen dùng mực tàu hay mực nho
  • Màu hoa hiên

IV. Vật liệu in tranh:

Ngoài bản khắc gỗ, màu vật liệu in tranh là giấy

Giấy in tranh là giấy dó. Các nghệ nhân Đông Hồ có sáng kiến quét thêm một lớp hồ điệp lên mặt giấy đó, tạo nên nền giấy độc đáo về màu sắc, tính chất của giấy điệp là cứng xống, hơn hẳn giấy dó thường.

Để làm giấy điệp: Vỏ điệp là một loại vỏ con điệp, khai thác ở vùng biển Quảng Ninh và Hải Phòng – đem về đổ thành đống ở sân, lấy bùn trát bên ngoài để ủ (1-2 năm) sau đó cho vào cối giã nhỏ, đổ vào bể nước để lọc (gọi là lừa). Nắm thành từng nắm (1 nắm khoảng 1kg) đem ra sân phơi cho khô sau đó cất bảo quản trong nhà. Khi làm, bóp nhỏ từng nắm bột điệp khô ấy, trộn với nước hồ nếp đặc, quét lên giấy dó để tạo giấy điệp.

Khi quét dùng chổi lá thông (dân gian gọi là thét) để quét địêp. Thét làm bằng lá thông phơi khô vừa phải, bó chặt lại thành từng nắm. Loại chổi này làm ở làng Đạo Tú, dưới làng Đông Hồ. Phải luộc chổi thông trước khi dùng, luộc bằng ít nước muôi, dun sôi 5-10 phút, rồi lấy búa đập (hoặc dùng dùi đục) thật kỹ ở phần đầu chổi, cho thật mềm như bút vẽ. Chổi thông dùng để quét điệp, phết màu in, quét giấy màu… thay cho bút bẹt. Loại chổi này làm được đủ cỡ, to nhất 20-25cm, nhỏ nhất 5-10cm.

Ngoài ra, nghệ nhân Đông Hồ còn quét thêm một lớp màu đỏ son, hoặc đỏ vang lên lớp điệp trắng, tạo nên cái nền giấy điệp có màu đỏ cam hay vàng hoè, ảnh lên sắc vàng chanh. Đó là 3 màu nền chính trên giấy điệp, xưa nay vẫn dùng để in tranh. Thông thường, người ta quét điệp trên giấy dó, rồi quét thêm nước hoa hòe màu vàng hay nước gỗ vang màu đỏ hiên.

Thạc Sĩ Bùi Văn Vượng
Trích “Di Sản Thủ Công Mỹ Nghệ Việt Nam”

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 7.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +3 (from 3 votes)
Tranh dân gian Việt Nam, 7.0 out of 10 based on 1 rating
NGƯỜI ĐĂNG
Admin: Nếu quý vị muốn đăng tải, chia sẻ bài viết, tài liệu, hình ảnh xin vui lòng gửi về bbt@thuhoavietnam.com hoặc viết bài trên Diễn đàn
 
Viết phản hồi