Bối cảnh ra đời Triển lãm Thư pháp trẻ “Nhị Thập Bát Tú”

 
Đăng bởi: 11 January 2006
views  1,542 lượt xem
CHIA SẺ:

Câu thơ của thi sĩ họ Chế trắc ẩn một tâm trạng ngậm ngùi tổn thương khó tả trước sự biến cải bể dâu và thân phận con người, kéo theo những bí quyết thu công làng nghề truyền thống thất truyền, báo động sự không giầu lên của di sản văn hoá vật chất và tinh thần. Những ông đồ, thầy lang, thiền sư ra đi đồng nghĩa với việc dối già một nền Hán học, chấm dứt một loại hình nghệ thuật thư pháp. Và ngày nay, rất ít trí thức hiển đạt trở lại sống và “tái đầu thai” những giá trị to lớn đem lại từ chất xám cho chính cái nôi làng xã đã sinh ra mình, khiến cho văn vật huy hoàng thuở nào trở thành sa mạc và dần bị trầm tích, nhiều giá trị vật chất và tinh thần ngày bị mai một khó bề bảo lưu và phát lộ, khiến cho giữa các thế hệ mất đi sợi dây liên kết, cãi nhau rất phi lý khi đối thoại và tai hại hơn: hiểu sai các giá trị văn hoá truyền thống là điều đã và đang xảy ra trong đời sống làng xã và đô thị ngày nay.

Triển lãm và trình diễn Thư pháp trẻ: Nhị thập bát tú

Triển lãm và trình diễn Thư pháp trẻ: Nhị thập bát tú

I. “Quanh hồ gươm không ai bàn chuyện vua Lê”

Năm 1987, gặp nhau bởi ý tưởng dân tộc nhưng lại biểu đạt theo chiều hướng đối thoại Đông – Tây, nghiên cứu Mỹ thuật gia Phan Cẩm Thượng mở chung một cuộc triển lãm thư hoạ với bậc thầy của mình là hoạ sỹ Nguyễn Quân tại một gallery cạnh Hồ Gương – số 7 Hàng Khay. Trong khi Nguyễn Quân là một người Tày học trình bày một loạt các tác phẩm trừu tượng thì ngược lại học trò ông như là hậu thân của một tri thức thời phong kiến, nhưng lại sống ở thời bao cấp rồi mở cửa. Ông sớm xác lập kho tri thức Hán và thư pháp từ gia đình, viếng thăm hầu khắp các di tích cổ và cùng thầy nghiên cứu viết sách và giảng dạy lịch sử lý luận phê bình mỹ thuật phương Đông, điều đó đã sớm giúp ông có những cái nhìn bản thể để tổng kết mỹ thuật nước nhà trên nhiều bình diện, nói cách khác: ông và thầy ông tiếp biến một cách đẹp đẽ những giá trị truyền thống phương Đông – nhất là mỹ thuật cổ người Việt, trong đó có thư pháp, Phan tiên sinh có nhãn quan sâu sắc khi xem khắp bút tích qua 10 thế kỷ của tiền nhân nhưng đã sớm rút lui khi biết mình có học cũng không hơn thư pháp của người xưa, mặc dầu vốn sùng chuộng cá tính và phong cách nghệ thuật, sở trưởng Hành Khải – nhất là phi bạch và thường viết nhanh, chú trọng về cảm xúc. Là người đầu tiên của lớp người Việt hiện tại bỏ xa tính công lợi chủ nghĩa của văn tự Hán để nâng chữ viết lên tầm nghệ thuật, chuyển dịch cái chữ từ nơi thờ tự miếu đường trang nghiêm, từ nơi vỉa hè phố phường ồn ào vào phòng triển lãm có tính salon thưởng ngoạn, ông là người đầu tiên cởi bỏ danh xưng ông đồ để tiến tới xác lập tư cách chức nghiệp thư pháp gia tại Bắc kỳ mà suốt ngàn năm trước đó không có bao giờ gọi, cho dù chính bản thân ông không được đào tạo hàn lâm theo nhãn quan của người Trung Quốc. Và nữa, ông cũng là người thứ 3 sau Phạm Đình Hổ, Lê Quý Đôn có ý thức tổng kết và lịch sử thư pháp cổ nước nhà nói riêng và nguyên lý lý luận, phê bình, bút pháp, phong cách, tác gia… thư pháp và hội hoạ cổ Trung Hoa nói chung. Sở đoản của tiên sinh cũng là bệnh chung của những người viết thư pháp thời đại bút sắt chính là ở điểm không chuyên nghiệp

Xuất thân trong một gia đình quan lại và nghiên cứu Hán học nổi tiếng cả Bắc Trung Nam, thông gia với tác gia Nhữ Bá Sĩ, Lê Văn Uông là mẫu người Thanh Hoá cổ kiên định, phóng khoáng, không thích ồn ào, và sớm dung dưỡng tinh thần Nho học trong khi được đào tạo văn hoá Pháp cao đẳng sư phạm rất căn bản. Cùng với lớp các cụ Phan Võ, Lê Thước, cụ Lê Văn Uông là một người hiếm hoi nhuần nhuyễn những nét đẹp vàng son ngàn năm đã khuất cùng quá khứ. Tinh thông ngũ thể, hiểu biết sâu sắc tự pháp, có vốn văn học và sử học uyên thâm, bút pháp của cụ già dặn và cao cách, vừa nhẹ nhõm thanh tú của bậc văn nhân tài tử vừa trầm hùng của người có pháp độ cộng với cốt cách Nho phong của người xưa mà không phải người biết chữ Hán nào sống trong thế kỷ 20 cũng có được! Ngoài phiên dịch, chú giải xác đáng tác phẩm Lam Sơn thực lục (văn bản phát hiện trong nhà con cháu Lê Sát) cùng với nhà sử học Nguyễn Diên Niên, cụ đã để lại nhiều mặc tích làm niềm vinh hạnh đối với bất cứ ai có được chữ của cụ trước và sau khi cụ bị loà. Cụ có một triển lãm Thư hoạ với học trò – thư hoạ gia Phan Bảo tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hoá năm 1988

Thuộc vào mẫu người cổ có văn học, tinh thông y lý, cụ già ở đất Thăng Long (Long thành lão nhân) Lỗ Công – Nguyễn Văn Bách sớm nổi danh và bạn đọc biết đến ông qua việc chuyển dịch các tác phẩm thơ văn Trung đại sang tiếng Việt, sống ở đất kinh kỳ linh thiêng hào hoa từ bé, cho dù tổ tịch ở xứ Hải Đông, cụ có được nét kín kẽ lịch duyệt nhưng hơi lạnh lùng kiểu người Hà Thành, nghề y gợi mở trong lòng cụ một đức độ lượng cứu nhân độ thế trên cả tiền tài tầm thường. Có lẽ vì thế mà cụ chẳng màng đến việc nổi danh thư pháp và thoả mãn dùng cái chữ chủ yếu cho việc phê đơn thuốc. Chữ cụ cực thuần và có pháp, thiên về Hành Thảo, đản về Triện, Lệ. Quanh năm bó mình trong bốn bức tường của khu nhà ống thiếu sáng của Hà Nội khiến chữ cụ thiếu đi sự bàng bạc của sông rộng núi cao, tiêu sái của hương đồng gió nội là nhược chính không thể cứu chữa.

Không hề thuộc hàng trí giả như cụ Lê Văn Uông, cùng là người Thanh Hoá nhưng tháo vát và sinh sống ở Thủ đô, cụ Lê Xuân Hoà trở nên nổi tiếng hàng đầu trong giới thư pháp hiện thời. Khoẻ khoắn về hai lối Hành, Khải nhưng không có pháp, lối cầm bút nghiêng tay của cụ khiến người am hiểu xem thấy rất trái mắt, cụ hưởng lộc văn tự khá muộn so với tuổi trời. Được sự hỗ trợ của Văn Miếu – Quốc tử giám Hà Nội, cụ là người thứ 4 đứng sau Phan Cẩm Thượng, Lê Văn Uông, Phan Bảo trong việc công bố các tác phẩm trước công chúng, cụ liên lục mở triển lãm thư pháp cá nhân từ Bắc tới Nam và rất được trọng vọng trên báo chí. Cụ Lê Xuân Hoà luôn quảng bá chữ nghĩa trong giới quan chức, thị trường thư pháp miền Bắc nhờ cụ mà chuyển biến từ văn hoá xin cho sang mua bán ngã giá, cũng vì lẽ này mà thẩm mỹ xã hội được lái đi theo hướng thị hiếu quan chức và thị dân, khiến nội hàm văn hoá thư pháp trở nên không còn đúng nghĩa. Nhưng ở một nhãn quan khác: cụ là một tấm gương trong việc hành nghề thư pháp chuyên nghiệp cho dù ở tuổi 80 hay 90 mà những người trẻ khoẻ hơn bỏ qua không hướng đến và chưa thể có được

Ngàn năm sót lại một người, Ngồi trên chiếu rách viết lời vàng son”. Không rõ là câu thơ của ai viết về cố thư pháp gia Lam Sơn – Hồng Thanh. Phù phiếm là đặc trưng phổ biến của thư pháp Hà Nội, nhưng trời phú cho ông thiên tính nghệ sỹ, chẳng nề hà và xấu hổ khi lôi thuột con chữ từ nơi trang nghiêm trong đình chùa, salon, trong nhà cụ Hoà cụ Bách ra “lê la” ở vỉa hè Bà Triệu – một dòng thư pháp bình dân ra đời, thị trường vỉa hè xác lập trái ngược với những khách hàng của cụ Lê Xuân Hoà. Ông không có ý nghĩ mở triển lãm cá nhân bao giờ, vợ bồi tranh chồng viết chữ cùng sống trong một ngôi nhà tồi tàn mà xung quanh tập trung rất nhiều cave đĩ điếm nghiện hút và nói những lời chẳng Thánh hiền tý nào, gia cảnh bần hàn và bệnh tật cộng với nỗi lo cơm áo mưu sinh đã làm nên phong thái viết chữ vẽ tranh nhẹ nhàng trong ông, mươi hoặc hai mươi nghìn một bức khiến chữ ông không mấy khi được trân trọng, nhưng chính ông lại là người rất gần gũi khi hướng người dân sống ở đất ngàn năm văn hiến cảm nhận được cái lộng lẫy của văn chương hàn lâm lồng trong cái vỏ “thư pháp vỉa hè”, rõ ràng ông có công trong việc đưa thư pháp vào trong đời sống dân nghèo khi tạo ra một chợ chữ Bà Triệu, khiến bức tường của vỉa hè này đặc sắc cảm tưởng như trong thơ của Vũ Đình Liên, gợi lại cho Hà Nội một nét đẹp hoài niệm đáng yêu. Cụ Tú Sót và cụ Thế Anh là người kế thừa xứng đáng những dư ba của cụ, đồng thời mở ra hướng nuôi sống rất nhiều người ăn theo.

Là con cháu quan tổng đốc Cung Đình Vận, ông Cung Khắc Lược có nỗi buồn sâu sắc về gia tộc và thân thế, riêng ôm trong mình một bồ kinh sử nhưng rốt cuộc chẳng dùng vào việc gì. Rất sớm, ông theo học văn học ở Trung quốc, sau đó lang bạt lên Thái Nguyên dạy học… sau rốt đã định ngôi Tiến sỹ giữa chốn đình chung của Viện nghiên cứu Hán Nôm, sống giữa nhiều người chữ nghĩa thâm hiểm, tiên sinh trở nên phá cách bất đắc chí và nhiều khi có những biểu hiện rất buồn cười, nói năng bạt mạng để rồi an phận tẩn mẩn với vẻ đẹp của đường nét. Nghề chính không gột ra tiền, kế lại không nằm trong túi gấm khiến ông suốt ngày vắng nhà, phó mặc vợ con sống trong một ngôi nhà ẩm thấp trong ngõ Cẩm Văn, ông bèn xoay ra làm đủ việc từ xem bói, cúng bái, dạy học, bốc phét… cho tới viết chữ. Ông là một hình mẫu thất bại thảm hại của tri thức Hán học trong thời buổi kinh tế thị trường, tự tạo nỗi khổ niềm vui và đeo đẳng nó như một nghiệp chướng nặng nề của tiền kiếp. Ông là người đầu tiên đọc vanh vách đặc trưng của tự pháp sắc phong và chữ viết thời Lê và vận dụng nó vào trong chữ Khải của mình, sau đó có một thời viết chữ Lệ rất rắn rỏi có thịt và tiệm cận được tinh thần của Lục Thượng Tân, nhưng không lâu thì lại bỏ. Sống lâu với thầy mo, thầy tào, phù thuỷ trên đồng rừng Thái Nguyên, ông đâm ra thích ký tự bùa. Phá vỡ gian giá bố cục, ông lên đồng trang giấy và chạy bút rất nhanh, cảm hứng luôn tuôn ra đầu ngòi bút tạo cho chỉnh thể tác phẩm một mớ bòng bong, loằng ngoằng rối rắm vừa Hán vừa Nôm Tày, nửa Hành nửa Thảo nửa bùa bèn cuồng quái. Bút lực khoẻ như bị ma nhập chảy tuôn ra những tư tưởng buồn vui phức hợp là đặc trưng “thư pháp lên đồng” của ông. Vô tiền khoáng hậu trên đất nước này, không ai đi cùng và học được tinh thần giang hồ “bất ky” mà vô cùng thần bí trong chữ của Cung tiên sinh – ông là hậu thân của Bát Đại Sơn Nhân dở khóc dở cười.

Nối tiếp một cách đẹp đẽ nền nghệ thuật thư pháp đình chùa, là người làm giầu di sản Hán Nôm và thư pháp nước nhà. Thượng toạ Thích Thanh Khoát là một hào kiệt tài tử trong hàng Samôn, tinh anh trong chốn vườn Thiền, giỏi võ công nên bút pháp có được sự khoẻ khoắn mạch lạc, có thể nói: chưa một ai ở trong 10 thế kỷ qua để lại nhiều bút tích nhiều như Thượng toạ. Điểm xuyết làm đẹp khuôn mặt đình chùa miền Bắc không ngoài ai khác ông. Chỉ tiếc, nhà chùa chuộng sự hồn hậu ngay ngắn của chữ Khải, nên tất thảy hoành phi, câu đối không phản ánh đúng tố chất nghệ sỹ trong ông. Đẳng cấp thư pháp chín rộ ở độ trung tuần, về già thường phá cách và chẳng câu nệ ngòi bút, dùng cái gì viết cũng được, hỷ xả tất cả và vượt lên trên cả sự khen chê đẹp xấu ở đời.

Nổi danh trong giới nghệ sỹ, Tào Mạt có thành tựu và là một diện mạo riêng trong nghệ thuật sân khấu Chèo nước nhà, nhiều người còn biết đến ông như một thi nhân, đặc biệt là một thư pháp gia kỳ tài. Vui trong cuộc rượu hội ngộ rồi chia tay, ông hứng khởi làm thơ rồi hào phóng tuôn ra không ít mặc tích chữ Thảo, gần như là hình ảnh của một Lý Bạch, một Vương Hy Chi trong lòng văn nghệ sỹ Việt Nam. Ông thích Thảo thư và tự hoàn thiện thú chơi này bất cứ lúc nào có thể, cho nên không lạ gì khi thấy giấy nào ông cũng trải, bút nào ông cũng ngoắng, ai ông cũng cho và đều trân trọng như một thứ gia bảo. Trong ông luôn toát lên một cái gì đó rất hào sảng phóng túng không chút vụ lợi, điều này phù hợp với vận cảm của nét chữ Thảo và những người làm nghệ thuật hàn lâm cao cấp. Chỉ tiếc vì tự học, chưa thấu pháp, vận bút tuy lưu loát nhưng lại phạm vào nhiều điều cấm kỵ của Thảo thư khiến chữ của ông mất đi nét nhuần nhuỵ trong sự bay bướm.

Tốt nghiệp chuyên ngành văn sử, nhưng lại nổi danh trên lĩnh vực hội hoạ, hoạ sỹ Phan Bảo sớm ý thức được lợi thế của chữ Hán trong công việc nghiên cứu Lịch sử và trải nghiệm “thư hoạ đồng nguyên” trong các tác phẩm của mình. Học chữ Hán và thư pháp từ bậc thầy Lê Văn Uông, ông bắt được vận cảm toát lên cái thần qua ngọn bút lông và sử dụng nó một cách thấu đạt về nguyên lý và phong phú về bút pháp. Thoạt đầu, lấy chữ Khải của Triệu Mạnh Phủ làm tông, sau đó chuyển dịch sang Triện, Lệ, Hành và đỉnh cao là Thảo thư, có thể nói ông là người thứ 2 sau thầy tinh thông và kiêm bị ngũ thể, đồng thời có một nền tảng về thư lý, thư luận, thư bình sâu sắc, giản dị và minh bạch là đặc trưng rõ nét nhất trong các tác phẩm thư pháp của ông. Ngoài ra ông và con rể ông là người đầu tiên có thái độ nghiên cứu nghiêm túc tổng quan về lịch sử thư pháp cổ nước nhà, nhất là chữ viết sắc phong thời Lê.

Kẻ ở người đi nhưng ai cũng canh cánh nỗi niềm về một nét đẹp hoài cổ trong buổi hoàng hôn, bình lặng chẳng nói nên chuyện mà tiềm tàng rất nhiều xung đột tiếc nuối. Câu chuyện cũ bỏ dở, tiệc vui lại bắt đầu là một cấu trúc bỏ ngỏ có hậu, gợi mở sự ghé thăm cho rất nhiều khách lạ.

II. Thác là thể phách còn là tinh anh

Thảng hoặc ai đó bắt gặp trong đời sống thời @ một cậu bé nào đấy thuộc vanh vách truyện Kiều, gật gù cắt nghĩa mạch lạc nội dung tấm bia cổ, hoặc giả viết chữ đẹp như thần khiến cho các ông đồ chỉ còn biết bẻ bút đập nghiên… Hiện tượng đó dễ khiến mọi người đều chung cảm giác trầm trồ tán thán. Điều này chỉ có thể lý giải rằng: bản lĩnh và cốt cách văn hoá dân tộc của ngàn năm không hề mất đi, mà nó luôn luôn ứng hiện và lại ghen theo thời, như một quy luật tất yếu. Một cảm giác không hề mê tín khi nói cậu bé đó tiền kiếp là một bậc văn nhân sỹ đại phu, là hậu thân các cụ áo the khăn xếp, như thể người xưa nhắm riêng đầu thai vào chúng và phú cho những tài nghệ hiếm có…. Quá khứ chiếm lĩnh tâm hồn những cậu bé ấy và người đời nhìn chúng, cảm tưởng như đang sống ở mấy thế kỷ về trước. Cũng may nhờ trời, những hậu thân này cũng đủ sống qua ngày và tiến thân lương thiện.

Triển lãm thư pháp cá nhân của Lê Quốc Việt diễn ra tại Văn miếu – Quốc tử giám khép lại chương cuối thư pháp Việt Nam thế kỷ 20, báo hiệu sự dối già của những thư pháp gia lão làng và chính thức thông báo sự có mặt của một thế hệ trẻ tuổi mới. Một hạng chắt Lê Quốc Việt 26 tuổi và bậc cụ Lê Xuân Hoà tuổi gần 90 phản ánh sự kế tiếp truyền thống một cách nội tại, vô luận giữa bậc cụ và hạng chắt bị đứt quãng mất 5 thế hệ (ông, cha, bác, chú, anh). Định kiến xã hội thay đổi khi nhìn về thế hệ trẻ và dần bị thuyết phục bởi tài năng trời phú, còn phẩm hạnh tự mà tu dưỡng

Vận hội mới mở ra khi Câu lạc bộ Thư pháp UNESCO thành lập có sự đóng góp công sức rất lớn của nhà giáo kiêm thư pháp gia Lại Cao Nguyện. Năm 2000, được sự tài trợ kinh tế hào phóng của Quỹ Thuỵ Điển – Việt Nam phát triển Văn hoá, một cuộc triển lãm quy mô về số lượng và thành phần tham gia được khai mạc tại di tích Văn miếu – Quốc tử giám. Đáng tiếc cuộc tổng duyệt lực lượng không tìm được tiếng nói đồng thuận giữa 2 thế hệ, trái ngược về quan niệm nghệ thuật và kinh nghiệm tổ chức, dẫn đến sự phân rã có thật của của các thành viên, nhất là lớp trẻ.

Hai mươi tám thanh niên có mặt trong cuộc triển lãm và trình diễn thư pháp trẻ mang tên “Nhị thập bát tú” diễn ra trong khuôn khổ hoạt động Tết Bính Tuất 2006 tổ chức tại di tích Văn miếu – Quốc tử giám lần này, có vài người từng tham gia cuộc triển lãm thư pháp tổng duyệt năm 2000. Là một cuộc đại hội quy tụ và lần đầu trình làng những tay bút trẻ chọn lọc miền Bắc và miền Trung, có nhiều người là nòng cốt tương lai trong việc xác lập diện mạo Hán học và thư pháp truyền thống nước nhà và từng đoạt giải Tài năng Thư pháp trẻ . Cũng giống như Tiến sỹ nghiên cứu Hán Nôm Cung Khắc Lược, kịch tác gia Tào Mạt, nghệ thuật gia Phan Cẩm Thượng…, không ai trong các gương mặt thư pháp trẻ được học thư pháp một cách hàn lâm quy chuẩn trực tiếp từ Trung Hoa, cũng không phải từ nguồn đào tạo của quốc gia, họ không ngộ nhận chức nghiệp thư pháp gia và tự thân trang bị hoàn thiện thú chơi nghệ thuật và ham mê đeo đuổi nó như một thứ tín điều mà không ảnh hưởng đến nhân cách và mọi người xung quanh. Già nửa xuất thân từ nông dân, có người là thiền sư, cư sỹ rũ áo nép mình sau cánh cửa chùa, kẻ là nghệ sỹ thất nghiệp phóng túng lưu vong, có người mải mê theo đuổi kinh doanh, còn lại đều có chân trong các cơ quan tôn giáo, văn hoá, trường viện Trung ương hay một công ty tư nhân làm công ăn lương nào đó… Hầu hết họ đều tốt nghiệp đại học và có duyên nợ với chữ Hán và nghệ thuật, “bảo hoàng hơn vua” và rất thành thạo chuyên môn, họ sống hai đời sống cổ kim và chấp nhận mâu thuẫn nội tại. Họ đều chung ước nguyện cùng nhau kiểm định lại thực lực thư pháp cổ và đương đại của nước nhà khi tham chiếu với các nước đồng văn, giữ lửa và hâm nóng những nét đẹp nhân bản của cha ông, phản hồi và định hướng thẩm mỹ xã hội, tích cực quay trở lại làng xã mà bổ sung làm giầu và xác lập cốt cách bản lĩnh văn hoá dân tộc thời đại ngày nay. Đương nhiên, ước nguyện “tu, tề, trị, bình” hay là vua sáng tôi hiền thì thời nào và ai cũng muốn nhưng chỉ tổ làm trò cười trong buổi cơ chế thị trường.

Cá tính và thân phận ảnh hưởng đến phong cách viết chữ của từng người, cho dù chữ Hán ở Việt Nam không là sinh ngữ, nhưng nghệ thuật Thi, Thư, Nhạc, Hoạ luôn là cái nôi dung dưỡng tâm hồn và hướng con người đến cảnh giới Chân, Thiện, Mỹ. Thông qua văn tự và nghệ thuật Thư pháp Hán Nôm, 28 thanh niên không ngoài khác muốn nối lại sợi dây liên kết giữa hiện tại – quá khứ, giữa con cháu – cha ông ngàn năm trong một chừng mực nhất định.

– Khổng Tử nói “Gửi chí vào đạo, chiếm giữ cái đức, nương nhờ cái nhân, và du hý trong nghệ thuật”.
– Lão Tử nói: “Huyền diệu lại huyền diệu, là cửa quy nạp tất thảy những thứ huyền diệu”.
– Phật Đà thì lại nói: “Tất cả các pháp đều là không tướng”.

Quan điểm phân vân mỗi nhà một khác, 28 tác giả thư pháp trẻ có mặt trong triển lãm Xuân Bính Tuất này đều kiên định khi cho 4 nguyên tố thiết yếu xác lập nên bản lãnh và cốt cách của một nghệ thuật gia nói chung và thư pháp gia nói riêng, chính là : Nhân phẩm, tài tình, học vấn và tư tưởng. Đủ biết nghệ thuật thư pháp không phải chuyện “điêu trùng tiểu kỹ”, nếu dễ thì Trung Hoa vạn người thì vạn người là thư pháp gia tất thảy, làm gì còn cơ hội cho hai mươi tám vì tinh tú mọc trong buổi hoàng hôn này?

Bối cảnh ra đời Triển lãm Thư pháp trẻ “Nhị Thập Bát tú”
Cửu Chân quận nhân Lê Quốc Việt – 2006

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
NGƯỜI ĐĂNG
Admin: Nếu quý vị muốn đăng tải, chia sẻ bài viết, tài liệu, hình ảnh xin vui lòng gửi về bbt@thuhoavietnam.com hoặc viết bài trên Diễn đàn
 
Viết phản hồi