Vài suy nghĩ riêng về thư pháp Việt Nam (phần 2)

 
Đăng bởi: 21 January 2007
views  2,200 lượt xem
CHIA SẺ:

Phần 1

Mạch ngầm văn hóa truyền thống vẫn chảy trong đời sống xã hội Việt nam dù đã trải qua bao thăng trầm . Nghệ thuật viết chữ đẹp đã dần được phục hưng từ thập kỷ 90 thế kỷ 20 với nhiều hình thức cổ kính xen lẫn tân kỳ.

2. Trong hiện tại

Còn nhớ Hà Nội vào những ngày giáp Tết đầu năm 90, người ta thường thấy một cụ già cặm cụi với giấy đỏ, mực tàu bên góc phố Bà Triệu . Cụ Hồng Thanh là người đầu tiên làm sống lại truyền thống viết chữ ở vỉa hè Hà nội lúc xuân sang, sau hàng chục năm quên lãng . Hồi ấy cụ viết chữ Hành Thảo và vẽ tranh, “hoa tay thảo những nét “, bút pháp nhuần nhuyễn lắm . Tôi khi còn là một học sinh nhỏ, từng đứng hàng giờ để xem cụ vẽ én, vẽ ngựa, viết những bài Phong kiều dạ bạc, Phù Dung lâu tống Tân Tiệm. Đó là những ấn tượng đầu tiên của tôi về một nghệ thuật vốn đã chìm vào dĩ vãng . Thế rồi vài năm sau sự ra đi của cụ Hồng Thanh, góc phố Bà Triệu lại nhộn nhịp hẳn lên bởi sự xuất hiện của các cụ Tú Sót, Thế Anh…. nhóm Cảo thơm thư hiên . Người Hà nội lại một lần nữa chứng kiến sự hồi sinh của một nét đẹp văn hóa đầu xuân . Phong trào viết chữ ngày Tết từ căn hầm 64 và lề đường Bà Triệu đã lan ra khắp nơi trên mảnh đất Thăng Long . Hàng Quạt , tượng vua Lê Thái Tổ , Văn Miếu – Quốc Tử Giám ….. những nơi ấy, những con người của một thời Hán học vàng son đã điểm thêm một nét đẹp cho thành phố đồng thời nhắc người ta biết đến một bộ môn nghệ thuật: Thư pháp.

Thư pháp là nghệ thuật viết chữ đẹp bằng bút lông, được người Trung Quốc sáng tạo ra từ hàng nghìn năm nay và đã lan tỏa ảnh hưởng đến nhiều nước xung quanh như: Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản . Thuật ngữ này được chính thức xuất hiện lần đầu ở Hà nội từ những cuộc triển lãm của các thư pháp gia: Phan Cẩm Thượng (Hàng Khay – 1996), Lê Xuân Hòa (Văn Miếu – 1997), Lê Quốc Việt (Văn miếu – 1999) , Unesco Thư pháp Thăng Long (Văn miếu – 2000), các cuộc triển lãm chào mừng ngày 20 – 11 của sinh viên Hán Nôm – Đh Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà nội… Đặc biệt năm 2000 đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của phong trào thư pháp với sự tham gia triển lãm của đông đảo những bậc cao niên, những cây bút trẻ, phía Bắc và miền Trung . Văn Miếu Quốc Tử giám Hà nội, trở thành địa điểm quen thuộc cho những người xin chữ đầu xuân với những niềm tin về “Phúc”, “Lộc”, “Thọ”, “Thành”,”Đạt”,”Chí”…. Người ta đã nhắc đến thư pháp với các tên tuổi như Lê Xuân Hòa, Nguyễn Văn Bách, Phan Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Đinh Thanh Hiếu (miền Bắc), Thích Phước Thành, Nguyễn Phước Hải Trung (Huế).

Cùng thời điểm này, phía Nam xuất hiện một loại hình nghệ thuật mới được gọi bởi nhiều tên: Thư pháp Việt, Thư pháp Quốc ngữ, Nghệ thuật của con chữ ……. Có người coi đây là phân môn nghệ thuật của thư pháp Hán bởi người viết cũng sử dụng bút lông, kết hợp lý luận thư pháp Hán với đặc điểm riêng có của chữ La tinh tạo nên các giá trị thẩm mỹ về chữ viết . Thư pháp Việt, tên gọi thông dụng nhất, được nhiều người cho rằng, do học giả Đông Hồ khởi xướng từ những năm 60 thế kỷ 20 . Bộ môn này được hưởng ứng khá mạnh mẽ với các tên tuổi như: Thanh Sơn, Trụ Vũ, Kiều Văn Tiến, Song Nguyên….(Thành phố Hồ Chí Minh), Minh Đức Triều Tâm Ảnh (Huế)…. mở ra một trào lưu mới trong nghệ thuật thư pháp tại Việt Nam.

“Thư pháp”, hai chữ ấy đã và đang được nhắc tới nhiều trong đời sống xã hội . Đó là một điều hết sức đáng quý nhưng còn đó những trăn trở về một cục diện hỗn loạn mà các giá trị thẩm mỹ chưa được đề cao một cách xứng đáng . Rõ ràng, thư pháp nước ta đang đứng trước 2 trào lưu: Thư pháp chữ Hán và Thư pháp chữ Quốc ngữ nhưng tựu chung lại có thể phân thành 2 xu hướng trong các nhà thư pháp Việt Nam đương đại, tạm gọi là “xã hội hóa thư pháp” và “hàn lâm hóa thư pháp”.

Nói đến “xã hội hóa thư pháp” tức là đưa nghệ thuật viết chữ đến với đông đảo người dân, phục vụ những nhu cầu văn hóa tinh thần của quảng đại quần chúng như: viết chữ đầu năm, phục chế hoành phi, câu đối trong đền chùa, từ đường …….. Bản thân hoạt động này góp phần rất lớn trong việc quảng bá nghệ thuật thư pháp . Không thể phủ nhận tâm huyết của các bậc lão thành, kiên trì khôi phục một nét đẹp của văn hóa truyền thống nhưng chúng ta cũng nên biết rằng, khái niệm “thư pháp” hầu như không được nhắc tới trong các văn bản cổ, dấu vết phân tích lý luận thư pháp của ông cha ta đến nay không còn gì, nền văn hóa Hán đã cách đây cả trăm năm, người dân không hiểu mấy về nét đẹp thư pháp . Tất yếu hoạt động “xã hội hóa thư pháp” này sẽ đem lại 2 hệ quả:

Một là, thư pháp với những nét “rồng bay phượng múa” sẽ trở thành một môn nghệ thuật được nhiều người biết đến và sẽ có nhiều bạn trẻ tham gia hơn, tiếp nối mạch truyền thống . Có thể thấy, trong khoảng 10 năm trở lại đây, hàng loạt các lớp thư pháp được mở ra, đáp ứng như cầu tìm hiểu của một bộ phận người dân: Lớp chùa Tảo Sách, lớp của công ty Mỹ thuật Sơn Hà.. (miền Bắc), nhà văn hóa quận 5, lớp của nhà thư pháp Trụ Vũ, của thầy Minh Đức Triều Tâm Ảnh …..(miền Trung và miền Nam). Các nhu cầu hướng tới văn hóa tâm linh phi vật thể của người dân được đáp ứng kịp thời như khôi phục từ đường, hoành phi, dịch và sao chép gia phả, sắc phong……..

Hai là, thư pháp sẽ trở nên “tầm thường hoá”. Người ta đến với thư pháp với quan niệm chỉ là “Tâm”, “Nhẫn”, “Đức”, “Thành đạt”….. Nét đẹp của thư pháp không nên đánh đồng với một kiểu xin chữ lấy lộc. Kiểu văn nghệ quần chúng như vậy cũng là một trong những nguyên nhân khiến thị hiếu quần chúng trở nên sai lạc. Thử một lần dạo gót Văn Miếu Quốc Tử Giám – Hà nội vào dịp đầu năm, một sân Thái học phơi kín giấy điệp những cũng chỉ quanh đi quẩn lại dăm ba chữ. Về tình hình này, thư pháp Quốc ngữ có vẻ đỡ hơn. Tôi thấy nhiều câu thơ Việt hay, nhiều câu kinh Phật được thể hiện bằng Quốc ngữ, nội dung khá đa dạng.

Trở lại vấn đề “hàn lâm hoá” thư pháp: Sự đứt gẫy trong truyền thống là khách quan, đòi hỏi những người viết thư pháp phải nỗ lực xây dựng lại một hệ thống lý luận, phương pháp luyện tập. Tôi không tham vọng qua một bài viết nhỏ này, có thể nói hết mọi góc cạnh của thư pháp, nhưng cũng cố gắng nói cho hết những suy tư riêng về Thư pháp chữ Hán và thư pháp Quốc ngữ:

Về thư pháp chữ Hán: có vẻ phát triển ở phía Bắc hơn, những nhân vật trẻ tuổi có thành tựu cũng nhiều hơn nơi khác, sách vở giao lưu với Trung Quốc cũng nhiều, vì vậy, phong trào nghiên cứu thư tịch, bi thiếp danh gia thư pháp khá sôi nổi. Có thể điểm tên một số người yêu thích thư pháp trẻ như: Cửu Chân Quận Nhân Lê Quốc Việt thông thạo tứ thể, Phạm Tuấn thiện Lệ Thư, Thuỳ Trang giỏi Lệ thư và Triện Khắc, Nguyễn Văn Thanh chuyên Khải thư …… Hiện nay, họ đang có xu hướng tập hơp lại để cùng nghiên cứu, cùng nâng cao trình độ thư pháp. Có lẽ đó là điều tất yếu để có thêm sức mạnh trong một “bó đũa”

Về thư pháp Quốc ngữ: mặc dù đã có nhiều tác giả xuất bản sách về thư pháp Quốc ngữ nhưng nhìn chung, sự nghiên cứu lý luận về nghệ thuật này chưa có gì nhiều. Mỗi nhà lại tự đưa riêng một trường phái, không thống nhất nhau về quan điểm thẩm mỹ. Có người vin vào một câu: “Cái đẹp của người và cái đẹp của ta….. thế làm sao phân biệt được xấu đẹp ….” (Trích trong Trang Tử). Nguỵ biện như vậy tất yếu dẫn đến người học lẫn người xem đều lúng túng trong việc đánh giá một tác phẩm thư pháp Quốc ngữ. Có những diễn đàn thư pháp Quốc ngữ rặt những lời tâng bốc nhau, khen tụng nhau, không có ý kiến đánh giá đúng đắn nào …. Phát triển làm sao? Lại nói về giới thư pháp Quốc ngữ, ai cũng tự cho chữ mình đẹp, bài xích người khác. Phát triển làm sao?

Cũng đã nhiều cho một vài ý kiến riêng về Thư pháp, tôi xin kết thúc bài viết ở đây. Hiện trạng thư pháp Việt nam trong con mắt tôi, tuy có chút thành tựu nhưng còn rất nhiều bất cập. Chỉ mong những người yêu thích thư pháp cả ba miền cùng nhau ngồi lại, học tập lẫn nhau, nghiên cứu thêm để nền thư pháp Việt Nam không những vững gốc mà còn đơm hoa kết trái.

(Hết)

Nam Long Nguyễn Quang Duy

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: -1 (from 1 vote)
Vài suy nghĩ riêng về thư pháp Việt Nam (phần 2), 10.0 out of 10 based on 1 rating
NGƯỜI ĐĂNG
 
Viết phản hồi