Vài suy nghĩ riêng về thư pháp Việt Nam (phần 1)

 
Đăng bởi: 20 January 2007
views  1,359 lượt xem
CHIA SẺ:

Tôi may mắn được tham gia vào phong trào thư pháp một thời gian dài, được chứng kiến sự phát triển ảnh hưởng của thư pháp trong đời sống xã hội Việt Nam. Có thể nói, không chỉ riêng tôi mà đối với tất cả những người ham thích bút lông , nghiên đá , mực tàu, đều có chung cảm giác vui mừng khi một bộ môn nghệ thuật lâu đời đang hồi sinh từng ngày . Đến hôm nay, tôi muốn nêu vài ý kiến cá nhân tôi về tình hình thư pháp Việt Nam trên mấy góc độ.

1. Trong quá khứ

Nhìn lại lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc ta, theo chân những đoàn quân phương Bắc sang xâm lược, chữ Hán đã xuất hiện trong đời sống xã hội Việt Nam từ rất sớm . Đại Việt Sử Ký toàn thư còn ghi lại sự kiện Sĩ Nhiếp sang cai trị ở Giao Chỉ, mở trường dạy học cho dân, hiện còn đền thờ Sĩ Vương ở Sơn Tây . Trước khi Ngô Vương Quyền giành lại tự chủ sau 1000 năm dưới ách đô hộ của Bắc quốc, dân tộc ta đã sản sinh ra một lớp sĩ nhân tiếp thu được tinh hoa của Hán học như Tinh Thiều từng tới đô thành Kiến Khang nhà Lương, Khương Công Phụ làm tới đại quan nhất phẩm triều Đường. Cứ thế mạch văn hóa ấy được người Việt tiếp thu và chọn lọc, tạo nên một bản sắc văn hóa chữ Hán đại đồng nhưng có dị biệt với Trung Nguyên.

Thiên tai địch họa kéo dài hàng thế kỷ, cho tới nay, chúng ta không còn giữ được nhiều mặc tích đẹp của cha ông những thuở gây nền độc lập nhưng những gì còn lại cũng cho ta thấy sự hiện diện của nghệ thuật viết chữ Hán trong tâm thức của kẻ sĩ bấy giờ . Vua Trần hiện vẫn còn bút tích ba chữ Thanh Hư Động bằng Lệ thư chuẩn ở Yên Tử , chữ Triện trên trán bia chùa Long Đọi ……. Muộn hơn về sau, chúng ta vẫn còn được chiêm ngưỡng bút tích hùng kiện của Trịnh Sâm ở chùa Hương, ở Ninh bình và vô vàn hoành phi câu đối đủ cả tứ thể tại các nơi thờ tự, đền miếu của lớp lớp sĩ phu….. Trong Vũ Trung Tùy bút, Phạm Đình Hổ cũng dành một phần viết về lối chữ viết của người Nam . Đặc biệt, gần đây khi có những nhà thư pháp Việt Nam như: Lê Quốc Việt, Nguyễn Đức Dũng, Nguyễn Đạt Thức bỏ công nghiên cứu tìm tòi về thể chữ Khải sắc phong đời Lê Trung Hưng, quả thật đó là những phát hiện khá thú vị về một thể chữ Khải mang phong cách Việt Nam. Khi Cửu Chân quận nhân Lê Quốc Việt giao lưu với các thư pháp gia Bắc Kinh, họ đều công nhận thể này chưa từng xuất hiện trong bất cứ một bia thiếp nào ở Trung Quốc . Kho tàng để lại của ông cha ta thật là quý báu và đáng học hỏi.

Việt Nam thời kỳ tự chủ, từ đời Lý, đời Trần, những người học chữ Hán đã ý thức việc tạo ra một hệ thống chữ riêng phù hợp với tiếng Việt . Chữ Nôm đã ra đời mà Hàn Thuyên (Nguyễn Văn Thuyên) là người đầu tiên dùng thể chữ này sáng tác văn học. Mặc dù chữ Nôm là sản phẩm của ý thức tự chủ dân tộc nhưng dẫu sao vẫn thoát thai từ chữ Hán . Xét về kết thể chữ nhiều chỗ phức tạp, phá vỡ kết cấu vuông trong chữ Khải, trùng lặp nhiều nét yến vĩ trong chữ Lệ, không bút thuận trong Hành, Thảo, hỏng hài hòa của Triện thư . Ngoài quan niệm “Nôm na là cha mách qué” , có lẽ phần nào vì lý do đó mà xưa kia ông cha ta hầu như không sử dụng chữ Nôm trong các văn bản hành chính cũng như câu đối, hoành phi …

Mỗi khi nghĩ về việc viết chữ Hán của ông cha ta, tôi không khỏi băn khoăn rằng: Liệu người xưa có coi thư pháp là một nghệ thuật gắn liền với chữ Hán, có lý luận, có mẫu tự (bi, thiếp) ….không? Hay đơn thuần là viết theo cảm tính “ngang bằng sổ thẳng”, “rồng bay phượng múa”,”văn hay, chữ tốt”….?

Chứng tích của một thời chữ Hán vàng son vẫn còn đây nhưng hai từ “thư pháp” và hệ thống lý luận của nó chưa hề xuất hiện trong bất cứ một văn bản cổ nào của Việt Nam gia dĩ để chúng ta có thể khảo cứu . Vỏn vẹn đôi nơi, còn thấy vết tích của sự giao lưu về sách vở giữa bản địa và Trung Quốc, như Nguyễn Du dịch câu “…Nhan cân Liễu cốt..” trong nguyên tác của Thanh Tâm tài nhân thành: ” ..so với thiếp Lan Đình nào thua….”; đọc và được nghe các cụ truyền lại rằng, thời xưa dạy viết chữ bằng cách trước tiên cho “đồ” chữ thầy, sau đó mới được “viết phóng ” (đó là lâm, mô chăng ?)….. Quả là điều đáng tiếc, khi chúng ta chưa đủ điều kiện để khảo cứu, trong khi lớp người “muôn năm cũ” đã khuất núi và khoa thi cuối cùng đã kết thúc ở Nam Định cách đây gần 100 năm . Đó là sự đứt gẫy ngoài mong muốn đối với những người nghiên cứu chữ Hán nói chung và yêu thích thư pháp nói riêng .

(Còn tiêp …) – Phần 2

Nam Long Nguyễn Quang Duy

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
NGƯỜI ĐĂNG
 
Viết phản hồi