Chủ nghĩa nhân cách trong Thư pháp nhà Nho

 
Đăng bởi: 29 October 2006
views  2,013 lượt xem
CHIA SẺ:

‘Văn hay chữ tốt’ và ‘văn dai như chão, chữ vuông như hòm’ là hai cách nói khen chê mà người Việt thường dành nói những phần tử trí thức theo đòi đạo học Khổng Mạnh thời xưa. Bỏ ngoài tai chuyện thị phi khen chê về lớp người ‘dài lưng tốn vải ăn no lại năm’ để đi vào xem xét nội hàm vấn đề, thì cả hai câu đều tập trung phẩm bàn về ‘Văn’ (nghệ thuật văn học/chương) và ‘Chữ’ (nghệ thuật thư pháp), cho hay giữa nội dung và hình thức có một mối liên kết chặt chẽ tạo nên cốt cách của chủ thể sáng tác và ngược lại.

Một mẫu Nhà Nho xưa

Ông đồ – 1 mẫu nhà nho xưa

Chẳng rõ sự phân chia trật tự giai tầng xã hội theo bảng xếp hạng Tứ dân (Sỹ,nông,công,thương) có từ thời vị quân vương nào, nhưng trong xã hội trọng nông như Việt Nam thì học vấn luôn là niềm khát khao để đi đến sự đổi đời, cho dù đôi khi nhà Nông vẫn thường nhắc nhở và mỉa mai kẻ sỹ: ‘Nhất sỹ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sỹ’. Hoặc thậm tệ hơn: ‘Văn hay chữ tốt, không bằng thằng dốt lắm tiền’.

Trật tự xã hội đặt ra, kẻ sỹ luôn được sủng ái và trọng vọng, họ là quân sư cho các bậc đế vương hoặc trực tiếp tham gia điều hành xã hội, họ kết bè lại thành một giai cấp thượng tầng từ trung ương cho tới làng xã, điều này cũng đồng nghĩa tạo ra một khối liên kết xã hội vững chắc và hạn chế khả năng phát sinh mâu thuẫn giai tầng là niềm ước ao của con dân muôn đời và thế lực tham chính.

Kể từ khi lập quốc, nền văn hiến mở ra thúc đẩy việc mở trường học và lập khoa thi kén chọn hiền tài ra gánh vác triều cương, mọi pháp chế điển chương người Việt đều lấy Trung Hoa làm kiểu mẫu, trong đó ‘dĩ thư tuyển sỹ’ (qua chữ viết để kén chọn kẻ sỹ) là một chi tiết nhỏ trong một biển học của Nho gia. Rất tiếc, sử Việt đều không ghi chép về việc này ngoài ghi chép tản mạn nhưng rất có ý thức dân tộc của Phạm Tùng Niên trong Vũ trung tùy bút.

Không nhiều thì ít, những người theo nghiệp cử tử nói chung và thụ học thư pháp nói riêng đều chịu sự ảnh hưởng của đạo thuật Nho gia, điều này thể hiện rất rõ trong tâm lý và phong tục tập quán. Trong khi đó, sự hồn nhiên trong nghệ thuật là biểu hiện của trạng thái tâm lý, là một thói quen của thời đại, nếu không cho rằng nghệ thuật phản ánh phong tục tập quán và tâm lý con người. Xét về mặt nội hàm thì nghệ thuật Thư pháp có tác dụng rất lớn trong việc dung dưỡng tố chất, hun đúc tình cảm và quan trọng nhất chính là vấn đề ‘Tu thân’. Nhưng nói rộng ra ở góc độ xã hội thì nghệ thuật còn có tác dụng trong việc cảm hóa lòng người, dời phong đổi tục. Đủ biết điểm mấu chốt khi nói đến nhãn quan nghệ thuật của Nho gia vẫn là mượn (hoặc coi) nghệ thuật như một thứ phương tiện để các nhà Nho vươn đến cái đích: ‘Trợ nhân luân, thành giáo hóa’ mà thôi!

Cũng tựa như Nho gia Trung Hoa, Nho gia Việt ta đều rất chú trọng vào chín chữ ‘Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ’ mà thoạt đầu là ‘Tu thân’ rồi sau rốt mới đến nghệ thuật Vì thế không lấy gì làm lạ khi Khổng tử nói: ‘ Người quân tử phải dốc chí vào đạo cả, chiếm giữ đức lớn, nương cậy lòng nhân rồi mới du hý trong nghệ thuật’. Quan điểm luân lý mà Khổng tử đề xướng trong việc tu tề trị bình có tính thực tiễn rất cao, là một trong những mệnh đề cực kỳ hệ thống và có mối quan hệ mật thiết đến nhân cách con người nói chung và Nho gia nói riêng. Nhưng xét ở một khía cạnh nào đó, xuất phát điểm ‘Tu thân’ của nhà Nho vô hình chung chia rẽ con người ta ra làm hai loại: Quân tử và Tiểu nhân, tâm tư của một kẻ sỹ đắc chí mũ cao áo rộng hay là một ông đồ gàn thất thế nơi chốn hương lư vẫn chỉ là việc không ngừng hoàn thiện chính mình để theo đuổi vẻn vẹn một điều ấy là: ‘Tòng tâm sở dục bất du củ’ mà Khổng tử vốn đã từng thất bại. Cũng chính vì thế mà Khổng tử luôn nghiêm khắc và khuôn phạm bản thân mình từ ngôn đến hạnh, từ nghe đến nhìn đều phải hợp với ‘Lễ’. Cực đoan đến mức: ‘Tịch bất chính bất tọa, cắt bất chính bất thực’ (Chiếu dải không ngay ngắn thì không ngồi, thịt cắt không vuông vức thì không ăn). Cái sự ‘ngay ngắn’, ‘vuông vức’ chính là biểu hiện của ‘Lễ’ và cũng là biểu hiện của nghệ thuật (đương nhiên cốt lõi là tập trung vào nhân cách). Đây là mệnh đề thú vị lý giải được nguyên nhân hai mặt tại sao cử tử đời sau lại chí thú học chữ Khải, đơn giản bởi chữ Khải còn được gọi là chữ Can Lộc, mà dân ta gọi nôm na là ‘cần câu cơm’.

Tiến thêm một bước trong việc tìm hiểu quan điểm nghệ thuật (hay quan điểm đối với nghệ thuật) của Khổng tử và các môn đồ vạn thế của ông, chính là ở chỗ ‘ tư vô tà’ (suy nghĩ không được tầm bậy), ‘lạc nhi bất dâm’ (vui mà không qúa, không dâm), ‘ai nhi bất thương’ (buồn nhưng không tổn hại)…, Ông ghét tiếng nước Trịnh (tức là Tục nhạc-nhạc dân gian, mọi rợ) mà yêu Nhã nhạc (tức Chính nhạc – nhạc miếu đường, tao nhã). Đề xuất quan điểm Nhã – Tục của Khổng là hạt nhân để xác lập nên nguyên lý căn bản cho phê bình Mỹ học của Nho gia và có ảnh hưởng sâu rộng đối với khoa phê bình nghệ thuật đời sau, đồng thời Nhã – Tục cũng chính là thước đo giá trị để đánh giá nghệ thuật. Chỉ tiếc Nho gia Việt Nam tuy nhiều chữ, thơ văn dông dài nhưng lại rất lười viết thi thoại, văn thoại, thi luận, thư luận, họa luận, nhạc luận… để tạo tiền đề cho khoa lý luận và phê bình sau này có cơ sở phát triển.

Nguyên lý và cốt lõi của việc phẩm bình là hướng tới sự nhất quán giữa nhân phẩm và nghệ thuật phẩm, cho nên nếu ai đó nhân phẩm đã kém thì khó mà có được chữ viết tao nhã. Bởi lẽ đó, nhất loạt nhà Nho đều sùng chuộng và đề xướng nhân phẩm lên đầu, thư phẩm xếp xuống sau, tạo ra ảnh hưởng thâm căn cố đế trong tư tưởng thư pháp đời sau. Cũng từ luận điểm này mà Liễu Công Quyền – Thư pháp gia đời Đường không hổ then với chính bản thân mình khi ông nói: ‘ Người ngay ngắn ắt chữ ngay ngắn’ (Nhân chính tắc tự chính).

Xem sử thời Nguyễn, mới rõ vua quan bấy giờ đánh giá không cao trước thuật đồ sộ của Phan Huy Chú không phải bở nhân phẩm Phan không cao, chẳng qua khoa hoạn của Phan kém. Tương tự, trong nhãn quan của Tự Đức, Cao Bá Quát là bề tôi phản nghịch, chữ có đẹp, văn có như giời cũng không đáng bàn. Nhưng đứng ở nhãn quan ngày nay, mọi cái được nhìn nhận lại, không ai mất đi giá trị của mình mà đều được đánh giá đúng mực, nếu không nói là đi ngược với những giá trị nhìn nhận ban đầu.

Quay lại vấn đề, hơn trăm năm sau Khổng, từ những gì mà ông thiết lập, Mạnh tử sống trong thời đại lễ nhạc băng hoại đã tiến thêm một bước trong việc khuếch trương quan niệm tu thân lên một tầm cao – đó là chí khí của bậc ‘Đại trượng phu’. Tầng lớp sỹ đại phu từ đó trở đi không ai là không ‘dưỡng hạo nhiên chi khí’ (dung dưỡng cái khí tự nhiên) nhằm bồi dưỡng một kiểu khí khái mà ta gọi là ‘quân tử Tầu’, biểu hiện ở chỗ: ‘Phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất, bần tiện bất năng di’, có thể nói lý tưởng về nhân cách đến Mạnh được phú thêm một nội dunhg mới.
Sự cương cứng rắn rỏi nêu trên (lực) đối nghịch với những gì ủy mị mềm yếu (vô lực). Nhưng bất luận có lực hay vô lực, cũng đều do hình thái nghệ thuật biểu cảm mà ra và rất khó có thể thay đổi được cái khí chất nội tại đó. Đây chính là tư tưởng triết học của phép Nhị phân từng sớm phổ quát trong Dịch (tức Âm Dương, cương nhu…). Phương pháp luận và nhận thức luận trên, một khi chuyển dịch sang nghệ thuật lại chính là Nhã – Tục, Hữu lực – Vô lực…

Tiếp sau Mạnh tử, Tuân tử là một nhân vật biểu hiện cho tính quá độ từ Nho chuyển sang Pháp gia, tư tưởng nghệ thuật của ông chủ yếu tập trung phản ánh trong quyển Nhạc luận. Sách tuy nói về nhạc nhưng cũng đủ tham chiếu cho Thư pháp và nó đại diện cho quan điểm nghệ thuật của ông. Trong khi Mạnh chủ trương ‘tính Thiện’ thì Tuân lại chủ trương ‘tính Ác’. Thoạt nghe có vẻ mâu thuẫn, nhưng kỳ thực ko phải vậy! Lập luận nghiêng về tính Thiện chẳng qua muốn khích dương cái Thiện một cách chính diện đồng thời thủ tiêu cái ác; Lập luận về tính Ác thực tế là muốn áp chế cái ác để khiến mọi người hướng về điều thiện, có thể nói: Mạnh và Tuân tuy đi khác đường nhưng lại chung về một nẻo. Có một vấn đề cần nhấn mạnh ở đây ấy là trong số các tư tưởng gia tiên Tần, có lẽ không một người thứ hai nào giống Tuân trong việc nhận rõ giá trị của nghệ thuật có tác dụng rất lớn đến sự an nguy của chính sự và vạch ra sự đối lập Thiện Ác trong lòng người như ông từng đưa ra.

Nho gia tựu trung từ Khổng Mạnh cho tới Tuân tử tuy không nói đến Thư pháp, nhưng cơ bản đã lập ra một hệ thống triết học cho nghệ thuật thông qua lý luận, và vô hình chung thâu tóm tất cả các bình diện của các môn nghệ thuật – trong đó có Thư pháp, để rồi từ thời Tống trở đi mới dần hoàn thiện và ảnh hưỡng rõ nét trong đầu óc Nho gia Việt Nam. Tinh thần và tư tưởng nghệ thuật cơ bản của Nho gia luôn coi nhân cách và khả năng tu dưỡng nhân cách là vấn đề khởi thủy trước khi nó được chuyển dịch vào trong lĩnh vực nghệ thuật. Trong lĩnh vực nghệ thuật Thư pháp nói riêng, Nhân cách – Tài tình – Học vấn và Tư tưởng là 4 yếu tố cốt lõi quyết định sự thành bại của tác phẩm và tác giả bất chấp thái độ xã hội.
Thư pháp học của các Nho gia Việt Nam không thể gói trong một bài viết ngắn, nhưng tư tưởng và quan điểm thẩm mỹ của Nho gia là điểm có thể tiếp cận trước khi quy chiếu vào trong tác phẩm cụ thể, và đây là ý đồ của bài viết khi gợi ra một cấu trúc ngỏ, để những bài viết sau có thể viết tiếp và ai viết cũng được

Cư sỹ chịu giới Bồ tát người quận Cửu Chân họ Lê viết

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
NGƯỜI ĐĂNG
Admin: Nếu quý vị muốn đăng tải, chia sẻ bài viết, tài liệu, hình ảnh xin vui lòng gửi về bbt@thuhoavietnam.com hoặc viết bài trên Diễn đàn
 
Viết phản hồi