<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Chuyên san &#187; Tao đàn Thư họa</title>
	<atom:link href="http://home.thuhoavn.com/?feed=rss2&#038;cat=22" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://home.thuhoavn.com</link>
	<description>Thư Họa Việt Nam</description>
	<lastBuildDate>Tue, 07 May 2013 04:24:42 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.5.1</generator>
		<item>
		<title>Vài nét về thể Từ “Nhất thất lệnh”</title>
		<link>http://home.thuhoavn.com/?p=5064</link>
		<comments>http://home.thuhoavn.com/?p=5064#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 19 Oct 2011 04:12:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Xuân Như</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tao đàn Thư họa]]></category>
		<category><![CDATA[Nhất thất lệnh]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://home.thuhoavn.com/?p=5064</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=5064" title="Vài nét về thể Từ “Nhất thất lệnh”"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2011/10/20090708124210125-175x175.jpg" alt="Tranh vẽ Bạch Cư Dị (TQ)"  width="175"  height="175"  class="colabs-image" /></a>Bạch Cư Dị (白居易) đời Đường (niên hiệu Đại Hòa năm thứ 3) đi nhậm chức ở Đông Đô, quần hiền chủ khách chín người trong đó có bọn Lý Thân, Nguyên Chẩn, Trương Tịch đều ra tống biệt nơi đình Hưng Hóa ở Trường An. Nhân tụ bạ ở đó, lại uống rượu làm thơ đưa [...]]]></description>
	<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=5064" title="Vài nét về thể Từ “Nhất thất lệnh”"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2011/10/20090708124210125-175x175.jpg" alt="Tranh vẽ Bạch Cư Dị (TQ)"  width="175"  height="175"  class="colabs-image" /></a>			<content:encoded><![CDATA[<p><a title="Thông tin về Bạch Cư Dị trên Wikipedia" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%A1ch_C%C6%B0_D%E1%BB%8B" target="_blank">Bạch Cư Dị</a> (白居易) đời Đường (niên hiệu Đại Hòa năm thứ 3) đi nhậm chức ở Đông Đô, quần hiền chủ khách chín người trong đó có bọn Lý Thân, Nguyên Chẩn, Trương Tịch đều ra tống biệt nơi đình Hưng Hóa ở Trường An. Nhân tụ bạ ở đó, lại uống rượu làm thơ đưa tiễn nhau nên lấy hứng ra đề thơ rằng, các câu từ 1 đến 7 chữ, trừ câu đầu 1 chữ, đề vận hợp nhất để thành thi. Họ Bạch lấy luôn chữ Thi (詩) làm đề, các câu còn lại là một cặp tiểu đối, tự số tăng dần, thảy là 55 chữ, ra bài thành hình thơ bảo tháp với số chữ tăng dần trong các cặp ở mỗi câu từ đầu đến cuối. Vậy, về thực chất, ban đầu nó là thơ, sau với vần điệu và tính nhạc trong đó mà được đưa vào &#8220;Từ phổ - 詞譜&#8221; mà phổ thành một thể Từ (詞), lấy tên &#8220;Nhất thất lệnh &#8211; 一七令&#8221; thuộc cổ thể &#8211; 古體. Bài của họ Bạch cũng được coi như điển phạm cho người và các đời kế tiếp. Về sau này có phái sinh thêm một kiểu nữa gọi tân thể &#8211; 新體, đó là câu đầu thành một cặp, nhưng mỗi cặp chỉ có 1 chữ, thảy thành 56 chữ toàn bài. Việc này trong &#8220;Đường thi kỷ sự &#8211; 唐詩紀事&#8221; quyển tam cửu và &#8220;Từ phổ &#8211; 詞譜&#8221; quyển thập nhất đều có ghi chép. Thể loại Từ này đặc trưng, hình thức hy kỳ, số lượng các bài Từ làm theo thể này sau cũng không nhiều, ghi chép xưa cũng không thấy mấy.</p>
<div id="attachment_5065" class="wp-caption aligncenter" style="width: 460px"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2011/10/20090708124210125.jpg"><img class="size-medium wp-image-5065" title="Tranh vẽ Bạch Cư Dị (TQ)" src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2011/10/20090708124210125-450x452.jpg" alt="20090708124210125 450x452 Vài nét về thể Từ “Nhất thất lệnh”" width="450" height="452" /></a><p class="wp-caption-text">Tranh vẽ Bạch Cư Dị (TQ)</p></div>
<p>Nguyên văn bài thơ của họ Bạch khi ấy như sau:</p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: medium;">詩</span><br />
<span style="font-size: medium;"> 綺美，瓖奇</span><br />
<span style="font-size: medium;"> 明月夜，落花時</span><br />
<span style="font-size: medium;"> 能助歡笑，亦傷別離</span><br />
<span style="font-size: medium;"> 調清金石怨，吟苦鬼神悲</span><br />
<span style="font-size: medium;"> 天下只應我愛，世間惟有君知</span><br />
<span style="font-size: medium;"> 自從都尉別蘇句，便到司空送白辭</span></p>
<p><strong>Phiên âm:</strong></p>
<p style="text-align: center;"><em>Thi</em><br />
<em>Khỉ mỹ, Tương kỳ</em><br />
<em>Minh nguyệt dạ, Lạc hoa thì</em><br />
<em>Năng trợ hoan tiếu, Diệc thương biệt ly</em><br />
<em>Điệu thanh kim thạch oán, Ngâm khổ quỷ thần bi</em><br />
<em>Thiên hạ chỉ ưng ngã ái, Thế gian ưng hữu quân tri</em><br />
<em>Tự tòng đô úy biệt Tô cú, Tiện đáo tư không tống Bạch từ</em></p>
<p>Ngắn gọn về lai lịch nguồn gốc tạm thời cũng mới chỉ biết thế. Nhân thấy không chỉ ở Trung Quốc mà ở ta giờ cũng có nhiều người hứng thú với kiểu loại cổ thể mà hình thức tân kỳ này, nên nay tạm biên ra đây các cách luật cơ bản của thể từ &#8220;Nhất thất lệnh&#8221; này đặng thi giới tiện bề tham khảo đối chiếu.</p>
<p><strong>1. Bình vận cách</strong><br />
<em>(Tổng số 55 chữ, cuối câu áp vận có bảy vần bằng)</em></p>
<p style="text-align: center;">Bằng<br />
Trung trắc, Trung bằng<br />
Bằng trắc trắc, trắc trung bằng<br />
Bằng trung trung trắc, Trắc trung trung bằng<br />
Trung bằng bằng trắc trắc, Trung trắc trắc bằng bằng<br />
Trung trắc trắc bằng trung trắc, Trung bằng trung trắc bằng bằng<br />
Trung trung trắc trắc bằng trung trắc, trung trung bằng bằng trắc trung bằng</p>
<p><strong>2. Trắc vận cách</strong><br />
<em>(Tổng số 55 chữ, cuối câu áp vận có bảy vần trắc)</em></p>
<p style="text-align: center;">Trắc<br />
Trung bằng, Trung trắc<br />
Trắc trung trung, bằng trung trắc<br />
Trắc trắc bằng bằng, bằng bằng trắc trắc<br />
Trung trung trắc trung bằng, Trung trung bằng trung trắc<br />
Trung bằng trắc bằng bằng trắc, Trung trắc bằng bằng trắc trắc<br />
Trung bằng trung trắc trắc bằng bằng, Bằng trắc trắc bằng trung trắc trắc</p>
<p><strong>Chú ý:</strong></p>
<ul>
<li>Cổ thể thi từ thường áp bằng trắc theo hai vận như vậy. Đối với tân thể 56 chữ cũng không ngoại lệ, chỉ khác ở câu đầu tiên là hai chữ chia đôi thành một cặp đơn. Đối với Bình vận cách câu đầu sẽ là Bằng &#8211; Bằng, với Trắc vận cách sẽ là Bằng &#8211; Trắc. Từ câu thứ hai trở đi, cả hai loại cũng diễn tiễn như vậy, đại đồng tiểu dị.</li>
<li>Nhấn mạnh các cặp trong các câu ở đây đều là các cặp tiểu đối. Với vần Trung thì có thể là Trắc, cũng có thể là Bằng nhưng nhất thiết vẫn phải tuân thủ đúng theo luật đối, không chỉ đối ở thanh điệu mà còn đối cả ở ngữ nghĩa nữa.</li>
<li>Bằng trắc đã đối ứng, vận luật cũng phải áp chuẩn giữa các câu, giữa câu trên câu dưới. Cước vận không nên xuất hiện cùng một chữ giống nhau, đó cũng là yêu cầu tu từ ngữ pháp đặc trưng trong thể từ.</li>
<li>Việc phiên dịch, chuyển ngữ là khá khó khi bị lệ thuộc vào hình thức trình bày (hình tháp) của bài Từ. Viẹc bảo lưu nguyên ngữ vẫn khả quan hơn cả nếu người đọc có thể tự hiểu và cảm được.</li>
</ul>
<p>Sơ khảo như vậy, tường khảo và tổng hợp sẽ viết sau.</p>
<p style="text-align: right;"><em>Quán Toan, Hải Phòng Oct 19, 2011</em><br />
<strong><a href="http://xuannhutapluc.thuhoavn.com/2011/10/the-tu-nhat-that-lenh/" target="_blank">Xuân Như</a></strong></p>
<fb:like href='http://home.thuhoavn.com/?p=5064' send='true' layout='standard' show_faces='true' width='450' height='65' action='like' colorscheme='light' font='lucida grande'></fb:like>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://home.thuhoavn.com/?feed=rss2&#038;p=5064</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vài nét phác về thể loại TỪ tại Việt Nam ta</title>
		<link>http://home.thuhoavn.com/?p=4771</link>
		<comments>http://home.thuhoavn.com/?p=4771#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 12 Feb 2011 03:30:43 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Phạm Văn Ánh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tao đàn Thư họa]]></category>
		<category><![CDATA[Phạm Văn Ánh]]></category>
		<category><![CDATA[Từ Việt]]></category>
		<category><![CDATA[Từ Việt Nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://home.thuhoavn.com/?p=4771</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=4771" title="Vài nét phác về thể loại TỪ tại Việt Nam ta"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/07/ylau-daoluyetu-tp-nav-175x51.jpg" alt=""  width="175"  height="51"  class="colabs-image" /></a>Từ là một thể loại văn học có vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học Trung Quốc, nhất là vào thời Tống. Nhắc đến thành tựu nổi bật của văn học Trung Quốc qua các thời kì, người ta quen nói “Hán phú, Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc, Minh- Thanh tiểu thuyết”. [...]]]></description>
	<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=4771" title="Vài nét phác về thể loại TỪ tại Việt Nam ta"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/07/ylau-daoluyetu-tp-nav-175x51.jpg" alt=""  width="175"  height="51"  class="colabs-image" /></a>			<content:encoded><![CDATA[<p>Từ là một thể loại văn học có vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học Trung Quốc, nhất là vào thời Tống. Nhắc đến thành tựu nổi bật của văn học Trung Quốc qua các thời kì, người ta quen nói “Hán phú, Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc, Minh- Thanh tiểu thuyết”. Đó cũng chính là cái được từ luận gia Vương Quốc Duy gọi là “văn học tương ứng với một thời đại” (nhất đại chi văn học) mà các đời sau chẳng thể nào theo kịp được. Trên thực tế, mỗi thể loại văn học trong quá trình phát triển của mình từ lúc manh nha đến khi đạt đến thành tựu đỉnh cao thường phải trải qua một quá trình vận động và phát triển lâu dài, thể loại từ cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Thời Tống, từ đạt thành tựu rực rỡ song chí ít trước đó, nó đã phải trải qua các giai đoạn từ sáng tác dân gian và của các văn nhân thời Đường (như các tác phẩm từ trong Vân dao tập, từ của Lý Bạch, Bạch Cư Dị&#8230;), qua Hoa gian phái (Hoa gian tập: Ôn Đình Quân, Hoàng Phủ Tung, Vi Trang, Tôn Quang Hiến&#8230;), và từ thời Nam Đường (với các tác giả như: Phùng Diên Tị, Lý Cảnh, Lý Dực&#8230;). Sang thời Tống, từ tiếp tục được sáng tác rộng rãi. Số lượng tác phẩm, tác giả từ thống kê sơ bộ qua các bộ toàn tập cho thấy điều đó. Sáng tác từ thời Tống trong Toàn Tống từ thu thập được khoảng gần 1 vạn bài của 1330 tác giả. Các giai đoạn sau được coi là thời kì suy thoái của thể loại từ song số lượng tác phẩm cũng như tác giả vẫn rất lớn, thống kê qua Toàn Kim- Nguyên từ có hơn 7290 bài của 288 tác giả, trong Toàn Minh từ có tới khoảng 18 nghìn bài của 1300 tác giả, và đến Toàn Thanh từ mặc dù chỉ tập hợp được một phần sáng tác từ của các tác giả giai đoạn này song con số thu thập được đã lên tới 5 vạn bài của trên 2 nghìn tác giả (1).</p>
<p>Do ảnh hưởng của văn học, văn hóa Trung Hoa, các nước trong khu vực như Việt Nam và Nhật Bản đều có tiếp thu thể loại từ.</p>
<div id="attachment_4772" class="wp-caption aligncenter" style="width: 460px"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2011/02/ylau-daoluyetu-tp-nav.jpg"><img class="size-medium wp-image-4772" title="Ỷ lâu – Đảo luyện tử – Nguyễn Hoàng Trung. Bút sắt Xuân Như viết" src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2011/02/ylau-daoluyetu-tp-nav-450x131.jpg" alt="ylau daoluyetu tp nav 450x131 Vài nét phác về thể loại TỪ tại Việt Nam ta" width="450" height="131" /></a><p class="wp-caption-text">Ỷ lâu – Đảo luyện tử – Nguyễn Hoàng Trung. Bút sắt Xuân Như viết</p></div>
<p>Ngay từ thời Thịnh Đường, khi thể loại từ ở Trung Quốc mới xuất hiện không bao lâu thì bài điệu từ Ngư phủ của Trương Chí Hòa đã ảnh hưởng sang Nhật Bản. Tha Nga thiên hoàng (嵯峨天皇, 786- 842) và quần thần đã sáng tác một loạt bài theo điệu từ này. Sau đó từ tiếp tục được sáng tác, với các tác giả như thân vương Kiêm Minh (兼明親王, ?- ?)- con của Đề Hồ thiên hoàng (醍醐天皇, tại vị 897- 930)(2) , tương đương với thời Ngũ đại của Trung Quốc.</p>
<p>Ở Việt Nam, theo tư liệu hiện còn, thể loại từ truyền nhập và được vận dụng trong sáng tác muộn hơn Nhật Bản, bắt đầu vào đầu thời tự chủ (tương đương với đầu thời Tống ở Trung Quốc) với bài từ điệu Nguyễn lang quy của Khuông Việt đại sư. Bài từ Nguyễn lang quy được viết năm 987 nhân việc tiễn sứ giả nhà Tống là Lí Giác (2) về nước. Xét trong sự vận động của thể loại cùng những đặc trưng nghệ thuật của thể loại tương ứng với các giai đoạn cụ thể của nó, tức là xét dưới góc độ từ sử, có thể xác định rằng bài từ Nguyễn lang quy của Khuông Việt Ngô Chân Lưu ra đời dưới sự ảnh hưởng của từ phong thời Ngũ đại; ngôn từ trang nhã, tình ý thiết tha, lấy lời đẹp để thể hiện tình nồng, đem diễm ngữ để biểu đạt cái diễm tình, vừa biểu hiện được tình cảm riêng tư, vừa thông qua đó khéo léo gửi gắm sự vụ quốc gia. Lê Quý Đôn trong phần “Lệ ngôn” sách Toàn Việt thi lục khen rằng bài từ của Khuông Việt “uyển chuyển hoa mĩ, có thể vốc được” (婉麗可掬- uyển lệ khả cúc). Tác phẩm Nguyễn lang quy chẳng những là bài từ đầu tiên đánh dấu sự tiếp nhận thể loại từ trong văn học Việt Nam mà cùng các bài như Nam quốc sơn hà, Quốc tộ,&#8230; trở thành một trong những tác phẩm khởi đầu cho nền văn học dân tộc.</p>
<p>Sau bài Nguyễn lang quy của Khuông Việt đại sư, thể loại từ gần như hoàn toàn vắng bóng trong giai đoạn Lý- Trần. Tất cả mọi tư liệu hiện còn về thể loại từ giai đoạn này chỉ cho ta biết rằng vào thời Trần, người Việt từng sáng tác theo theo một số điệu như Ngọc lâu xuân, Đạp thanh du, Mộng du tiên (4). Tác phẩm còn lại đến nay chỉ có duy nhất một bài từ điệu Tây giang nguyệt của Lý Đạo Tái (tức Huyền Quang) (5). Thực chất bài từ điệu Tây giang nguyệt này hiện trong tình trạng tàn khuyết, chỉ còn nửa bài, tương ứng với phần thượng phiến, cũng không chuẩn cách luật; thêm nữa, xét văn bản tác phẩm hiện còn, có thể thấy một cách hiển nhiên rằng tác phẩm này tuy ghi lại dấu ấn sáng tác từ thời Trần song tiếc rằng không có giá trị đáng kể về nội dung và nghệ thuật.</p>
<p>Thời Lê sơ, hiện không còn lại bất cứ từ phẩm nào. Đến thời Lê trung hưng, thể loại từ mới xuất hiện trở lại. Như vậy, xét trong từ sử Việt Nam, sau bài từ điệu Nguyễn lang quy của Khuông Việt Ngô Chân Lưu và bài từ điệu Tây giang nguyệt của Huyền Quang Lí Đạo Tái rất lâu sau thể từ mới dần dần được sáng tác trở lại. Tác giả mở đầu cho thể loại từ thời Lê là Phùng Khắc Khoan, đại thần thời Lê trung hưng, một con người luôn mang trong mình khát vọng hào kiệt, phò nghiêng đỡ lệch. Tác phẩm từ của ông hiện chỉ còn 03 bài, nằm trong Ngôn chí thi tập (Tập thơ nói chí), trong đó tiêu biểu nhất là bài Thưởng xuân, điệu Tấm viên xuân, một bài từ khá đậm đà bản sắc thể loại.</p>
<p><em>Thiên thượng dương hồi,<br />
Nhân gian xuân chí.<br />
Hựu nhất phiên tân.<br />
Cái khai thái càn khôn,<br />
Thiều quang úc úc,<br />
Hướng dương quang thảo,<br />
Sinh ý hân hân.<br />
Hồng sấn đào tai,<br />
Thanh khuy liễu nhãn,<br />
Oanh huỳnh điệp phác lộng tân phân.<br />
Nhị tam tử,<br />
Ngộ đáo lai thì tiết,<br />
Phong quang khả nhân. </em></p>
<p><em>Giá ban mĩ cảnh lương thì,<br />
Dục hành lạc tu cập thử thanh xuân.<br />
Liêu vấn liễu vấn hoa hương,<br />
Huề hồng tụ nhất trường,<br />
Tiến sĩ đả cầu,<br />
Bồi thần thị yến,<br />
Cổ lai lạc sự thượng truyền văn.<br />
Kim tao phùng,<br />
Thánh thiên tử,<br />
Hạnh đắc trí thân.</em></p>
<p>(Dịch nghĩa: <em>Khí dương về trời / Mùa xuân đến nhân gian / Lại một phen đổi mới / Xét lẽ, trời đất mở vận thái / Ánh xuân nồng nàn / Cỏ cây hướng về vầng thái dương / Bừng bừng sức sống / Da đào phô sắc sắc hồng / Mắt liễu hé chồi xanh / Chim oanh thổi sáo, lũ bướm đánh nhịp phách, múa rộn tưng bừng / Các vị / Gặp khi tiết đẹp đến / Phong cảnh say lòng người /&#8212; Lúc cảnh đẹp, thời tiết tốt như thế này / Muốn hành lạc cho kịp thanh xuân này / Hãy hỏi liễu biếc, hỏi hương hoa / Tay áo hồng nâng chén rượu / Cùng vịnh cùng ca cho vang tận làn mây trắng / Tiến sĩ đánh cầu / Thị thần hầu yến / Những việc vui thuở xưa vẫn truyền nghe / Nay gặp gỡ / Thánh thiên tử / May được tiến thân</em>).</p>
<p>Bài từ viết hoàn toàn không tuân thủ đúng điệu thức được từ phổ ghi nhận, có xu hướng tự do hóa. Lại dùng một số từ của cổ văn như “cái”, “nhị tam tử”. Nhịp từ khi khoan khi nhặt, lúc điềm tĩnh chậm chạp, lúc như hối hả giục giã. Cảnh sắc được miêu tả là cảnh sắc mùa xuân đẹp đến “say lòng người”, cái cảnh sắc khiến người ta không thể hững hờ, muốn hưởng lạc nhân sinh, “hành lạc” ngay “cho kịp thanh xuân này”. Tuy nó chưa đạt mức đẩy sự hành lạc lên như một thứ tư tưởng để chống lại tư tưởng khắc kỉ như kiểu Nguyễn Công Trứ, nhưng nếu nói cái “vội vàng” của Xuân Diệu hình như có thấp thoáng ở đây thì cũng không phải là một sự liên hệ không có căn cứ. Tiếng vọng từ con chữ gợi cho người đọc ý thương xuân tiếc xuân của Thi Tiên Lí Bạch “Cổ chi bỉnh chúc dạ du du”, hay câu thơ diễn Nôm ý cổ nhân kiểu Nguyễn Trãi: “Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm”. Đan cài ngôn từ của cổ văn, lại ngụ được cái tứ của cổ nhân khiến cho bài từ tuy vang vọng tiếng nói thúc giục hưởng lạc nhân sinh mà vẫn có chừng mực và đầy trang trọng, điển nhã; phong cách từ vừa có ý vị của phái Hào phóng, vừa có ý vị của phái Uyển ước. Chỉ cần một bài từ này Phùng Khắc Khoan không mất đi phong phạm đại gia, đủ tư cách là từ nhân tiên phong cho các từ nhân thời Lê Trung hưng và thậm chí các giai đoạn sau.</p>
<p>Những nguồn tư liệu có thể xác định về niên đại cho thấy thể loại từ thời Lê số lượng chưa nhiều, chưa có từ tập chuyên biệt(6) , sáng tác từ nằm rải rác trong các thi tập, xen với thơ, hoặc xen trong các truyện. Và, khá hơn một chút, thì được sáng tác thành chùm bài, hay được nhóm vào một mục riêng, đặt theo một tên gọi khác của từ là “thi dư”. Tên gọi “thi dư” vừa cho thấy từ là bộ phận khác thơ, khái niệm thơ không bao quát lọn được nó vào trong, nhưng đồng thời, cơ hồ cũng là gửi gắm trong đó một quan niệm coi từ là bộ phận có phần thấp kém hơn thơ (8). Trọng điểm sáng tác từ thời Lê rơi vào khoảng thế kỉ XVIII với các đại diện như: Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn, Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Huy Oánh, Ngô Thì Sĩ, Lê Khắc Viện… Trên cơ bản, các tác giả này đều là những người có quan hệ khá mật thiết với nhau. Tác giả từ thời Lê đều là những người có học vấn sâu sắc. Sự trở lại của thể loại từ vào thời Lê cố nhiên không có sự kế thừa từ truyền thống từ học Việt Nam. Các nguồn ảnh hưởng dẫn đến sự xuất hiện trở lại của thể loại từ thời này khá phức tạp: ngoài ảnh hưởng của Tống từ thông qua sở học của các nhà nho còn có ảnh hưởng từ nguồn sách vở Trung Quốc thời Minh- Thanh truyền sang, hơn nữa có cả những tiếp xúc trực tiếp với các tác giả, tác phẩm từ Trung Quốc thông qua việc đi sứ.</p>
<p>Sáng tác từ thời Lê nhìn chung số lượng chưa lớn, chưa có từ tập riêng biệt; tác phẩm từ nằm trong các thi văn tập và các truyện, xen với thơ, bị “ngập” trong thơ. Tuy trong quan niệm của các tác giả, ngoài sự khác biệt về hình thức, ranh giới giữa từ và thơ khá mờ nhạt, xu hướng “thi hóa” đã có những dấu hiệu nhất định.</p>
<p>Môi trường tiếp nhận không phù hợp cho một thể thức văn chương giải trí nơi ca lâu kĩ quán nên liên tục một thời gian dài kể từ bài từ điệu Nguyễn lang quy của Ngô Chân Lưu và sau đó là bài Tây giang nguyệt của Lí Đạo Tái, thể loại từ vắng bóng trong văn học Việt Nam. Sang thời Lê, thể loại từ bắt đầu xuất hiện trở lại. Từ chỗ trải hơn 5 thế kỉ chỉ có một hai tác phẩm từ, đến đây số lượng tác phẩm ít nhất đã lên tới con số 73, với sự góp mặt của 8 tác giả. Sự trở lại ấy có liên quan nhất định với sự thay đổi của môi trường tiếp nhận và quan niệm văn học. Tuy nhiên, từ thực tế các sáng tác từ thời Lê, có thể khẳng định rằng thời này chưa có tác giả nào thực sự dành nhiều tâm huyết để điền từ, tác từ, cũng chưa có tác giả nào khả dĩ có thể coi là từ nhân thực thụ.</p>
<p>Giai đoạn giao thời Tây Sơn- Nguyễn ghi nhận một hiện tượng khá thú vị, đó là sự xuất hiện của các tác phẩm từ viết bằng Quốc âm- chữ Nôm. Trong truyện Nôm Sơ kính tân trang, một tác phẩm giàu màu sắc tự truyện, tác giả Phạm Thái đã lồng ghép vào truyện 04 bài từ chữ Nôm. Trong từ sử Việt Nam, theo khảo sát của chúng tôi cho đến thời điểm này, Phạm Thái là tác giả duy nhất sáng tác từ bằng chữ Nôm, và do đó, sự xuất hiện các tác phẩm từ Nôm trong Sơ kính tân trang có thể tạm coi là hiện tượng vô tiền khoáng hậu. Không chỉ vậy, đó đều là các tác phẩm nghiêm cẩn về cách luật, tình điệu thiết tha, giàu nhạc tính, xét nội dung và hình thức nghệ thuật đều đạt đến mức hoàn mĩ.</p>
<p>Sang thời Nguyễn, sáng tác từ nhiều hơn hẳn tất cả các tác phẩm từ của các giai đoạn trước. Không tính Cổ điệu ngâm từ (theo nghiên cứu giám định của chúng tôi, là một từ tập ngụy tạo)(8) , giai đoạn này chí ít hiện còn hai từ tập, gồm: Mộng Mai từ lục của Đào Tấn (Tuy nhiên, theo nghiên cứu giám định văn bản của chúng tôi, từ tập này có lẫn ít nhất 38 tác phẩm từ của Trung Quốc) (9) và Thương Sơn từ tập của Miên Thẩm (10). Cả hai tác giả không chỉ chuyên viết từ, song với các từ tập còn lại, chứng tỏ họ có nhiều hứng thú và dụng công trong sáng tác, có tư cách là các từ nhân thực thụ. Bên cạnh đó, có tác giả tuy không có từ tập chuyên biệt, song đã để lại một khối lượng tác phẩm từ phong phú. Như trường hợp tác giả Thiếu Tuấn (11), bên cạnh các tác phẩm thơ, ông còn 75 bài từ, trong đó không ít bài đạt đến trình độ xuất sắc. Số lượng tác phẩm từ của riêng ông lớn hơn toàn bộ các từ phẩm hiện còn từ thời Tây Sơn trở về trước.</p>
<p>So với các giai đoạn trước, thời Nguyễn không chỉ ghi nhận sự thường xuyên của các tác phẩm từ mà còn ghi nhận sự xuất hiện của một số tác phẩm có tính chất từ thoại vốn trước đó chưa từng xuất hiện.</p>
<p>Sách Vi Dã hợp tập của Miên Trinh có nhắc đến một cuốn từ thoại của Tử Dụ- Tức Nguyễn Miên Khoan, người hoàng tộc nhà Nguyễn – song tiếc rằng cuốn Từ thoại này nay đã thất truyền. Hiện còn một số bài viết (thuộc về các thể sớ, bạt, thư, tự&#8230;) có giá trị nhất định về từ học. Vi Dã hợp tập của Miên Trinh có các bài: Thi từ hợp nhạc sớ, Đáp chiếu trát tử (quyển 1), Từ tuyển bạt, Dữ Trọng Cung luận điền từ thư (quyển 3) đã đề cập đến một số phương diện nhất định của thể loại từ. Các bài hoặc bày tỏ quan điểm về việc sáng tác từ, hoặc nói đến cái khó của việc điền từ; đôi khi đi vào những khía cạnh rất sâu, chẳng hạn bàn đến tính chất hợp nhạc của từ (như bài Thi từ hợp nhạc sớ và Đáp chiếu trát tử, tiếc rằng hiểu biết về mối quan hệ giữa từ và nhạc của tác giả còn quá nhiều hạn chế). Ngoài ra trong Thương Sơn ngoại tập còn có bài tựa Cổ Duệ từ do Miên Thẩm viết. Bài này tuy không giàu giá trị lí luận nhưng qua đó cũng có thể thấy được một số quan niệm của tác giả trong việc tác từ.</p>
<p>Trên cơ sở khảo sát một cách tổng thể thành tựu tác từ ở Việt Nam cả về phương diện sáng tác cũng như lí luận từ học, dễ nhận thấy, nếu như ở Trung Quốc, từ là thể loại đặc biệt phát triển thì trái lại, ở Việt Nam, từ không không phát triển mạnh như một số thể loại khác, đặc biệt là các thể loại gắn với khoa cử. Sở dĩ có hiện tượng này vì từ vốn là thể loại “diễm khoa”, là thứ văn học hợp nhạc, gắn liền ca lâu kĩ quán, với môi trường giàu chất âm nhạc và nữ tính. Cơ sở cho sự phát triển của nó là đời sống đô thị, trong khi đó ở Việt Nam, đô thị không phát triển mạnh. Thêm nữa, ở giai đoạn từ còn tòng thuộc vào âm nhạc, từ nhân không chỉ là người năng văn mà còn phải rất sành sỏi về âm nhạc mới có khả năng điền từ. Điều này gây trở ngại rất lớn cho các từ nhân Việt Nam. Nếu như ở giai đoạn đầu, việc sáng tác từ tuân theo nguyên tắc “tiên nhạc hậu từ” (nhạc trước lời sau), “ỷ thanh điền từ” (nương nhạc điền lời), nghĩa là việc sáng tác từ phải dựa vào các bản nhạc (Yến nhạc) có sẵn, thì sau khi từ nhạc thất truyền, cách luật của từ được khái quát hóa trong các sách từ phổ, việc tác từ là “án phổ điền từ” (dựa vào từ phổ để điền lời), tuy có thuận lợi hơn, song cách luật của từ vốn phức tạp, vả lại không phải ai cũng có từ phổ, do vậy việc tác từ gặp nhiều trở ngại. Thêm vào đó, dưới thời quân chủ, Việt Nam là nước thuần nông nghiệp, kinh tế đặc biệt kém phát triển, nhà nho về căn bản đều cốt học để đi thi, để lập thân, tham gia vào đời sống quan liêu, lấy vinh thân phì gia là mục đích cho sự học, do vậy ít chú ý đến thể loại từ, vốn là thể loại không thiết dụng cho cái học khoa cử. Xem ý kiến của Phạm Dần Khanh (người thời Nguyễn) nêu ra nhân nhận xét cho mục “Định chí” sách Nghi Am sơ học định thức của Nhữ Bá Sĩ có thể thấy cái hẹp hòi trong sở học của nhà nho: “Việc học ở nước ta đến nay, cái chí có thể biết được vậy. Ngoài cái học cử nghiệp đặng mà đi thi ra, thì chí hướng không có gì khác nữa; ngoài khoa bảng ra, chí hướng của người học không kì vọng vào điều chi khác. Con em đi học lấy cái đó để mà định chí; cha, thầy cũng lấy đó để định chí cho con cho trò. Tích tập thành thói quen lâu ngày, người ta cũng chẳng ai có ý gì khác” (12). Ngay như Miên Trinh nổi tiếng là người có học vấn sâu rộng, giỏi thơ văn, được ca tụng là “Văn như Siêu Quát vô tiền Hán / Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường” (Văn như Siêu [Nguyễn Văn Siêu], Quát [Cao Bá Quát] hơn tiền Hán / Thơ đến Tùng [Thiện Vương Miên Thẩm], Tuy [Lí Vương Miên Trinh] vượt thịnh Đường) cũng không tỏ ra là người có hiểu biết về thể loại từ (13). “Hiện đại hơn” như Bùi Kỉ, là người thông tường cựu học (từng thi đỗ Phó bảng), có trình độ tân học (Học trường Pháp, tham gia viết báo, giảng dạy, viết sách…) vậy mà trong Quốc văn cụ thể (Tân Việt Nam thư xã,Trung Bắc tân văn, H, 1932) nếu ở các thể loại như thơ, phú, ông tỏ ra là người hết sức am tường thì phần viết về thể loại từ ông lại không tránh khỏi những sai lầm rất cơ bản (14). Thực tế đó cho thấy, nhà nho Việt Nam không vốn không có nhiều người am hiểu về thể loại từ, và việc điền từ, tác từ thực không phải là sở trường của nhà nho Việt Nam. Điều này cũng giải tại sao các tác giả từ ở Việt Nam hầu như đều là những người có trình độ học thức cao, có địa vị trong hệ thống chính trị, có quan hệ rộng rãi với giới khoa bảng, đồng thời từng sống ở những nơi đô hội.</p>
<p>Do chỗ trong lịch sử văn học Việt Nam, từ không phải thể loại có nhiều thành tựu, do vậy nó không thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu. Và vì vậy, cho đến thời điểm này, hầu như tất cả các công trình, bài viết đã công bố không đủ cho người đọc một cái nhìn dù chỉ là sơ giản về thể loại từ trong văn học Trung đại Việt Nam. Gần đây, xu hướng nghiên cứu theo thể loại văn học ngày càng được chú trọng, hi vọng trong tương lai không xa, việc nghiên cứu thể loại từ sẽ có những bước tiến mới.</p>
<p style="text-align: right;"><strong>Phạm Văn Ánh</strong> (Thạc sĩ, Viện Văn học)<br />
<em>Tạp chí Hán Nôm số 4 năm 2009, trang 22</em></p>
<p>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-<br />
1. Xem các mục từ cùng tên trong Trung Quốc từ học đại từ điển (Chiết Giang Giáo dục xuất bản xã, 1996). Xem thêm thống kê của Trần Ngọc Vương- Đinh Thanh Hiếu trong bài: Từ- một chủng loại còn ít biết tới (Nghiên cứu Văn học, số 9- 2002, tr. 35 – 47).</p>
<p>2. Xem Thần Điền Hỉ Nhất Lang (神田喜一郎, Nhật Bản): Nhật Bản điền từ sử thoại (日本填詞史話. Bản dịch tiếng Trung của Trình Úc Xuyết 程郁綴và Cao Dã Tuyết 高野雪, Bắc Kinh Đại học xuất bản xã, Bắc Kinh, 2000, Tr. 5-12.</p>
<p>3. Lý Giác李覺: Trong các thư tịch cổ Việt nam, có sách ghi là Nguyễn Giác 阮覺. Sở dĩ có sự khác biệt này, do nhà Trần thay nhà Lí nên họ Lí bị đổi thành họ Nguyễn.</p>
<p>4. Lê Tắc: An Nam chí lược (bản dịch). Nxb. Thuận Hóa, Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, H, 2002, tr. 72.</p>
<p>5. Xem tác phẩm của Huyền Quang Lí Đạo Tái trong sách Tam tổ thực lục.</p>
<p>6. Theo một số tư liệu, chẳng hạn Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí cho biết: Lương Như Hộc (thế kỉ XV) có sách Cổ kim chế từ tập (古今制辭集) song sách này nay đã thất truyền. Có nhà nghiên cứu cho đây là một từ tập. Do sách đã thất truyền nên không có điều kiện để kiểm chứng. Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào tên sách, nhất là hai chữ “chế từ制辭” chưa đủ cơ sở để có thể dám chắc đây là một từ tập. Vì lẽ chữ “từ” trong cụm từ “chế từ” không phải chữ “từ” nghĩa là thể loại từ. Vả lại nói về việc sáng tác từ, giới từ học cổ kim thường dùng các từ: điền từ, tác từ, ỷ thanh, chứ không thấy dùng hai chữ “chế từ”. Trong trường hợp này, hai chữ “chế từ”, theo chúng tôi chỉ có nghĩa là chế tác văn từ. Và do vậy, tên gọi Cổ kim chế từ tập có nghĩa là tập sách tập hợp các tác phẩm văn chương cổ kim. Theo nghĩa đó, tác phẩm này thực chất là một tổng tập, tuyển tập văn học nói chung, không phải là một từ tập. Kết quả khảo sát thể loại từ từ thế kỉ XV về trước có thể làm minh chứng cho nhận định đó.</p>
<p>7. Ngô Trượng Thục: Từ học khái thuyết. Trung Hoa thư cục xuất bản, 2001, tr. 34.</p>
<p>8. Xem Phạm Văn Ánh: Cổ điệu ngâm từ không phải từ tập của Việt Nam, Tạp chí Hán Nôm số 3 năm 2007.</p>
<p>9. Qua nghiên cứu giám định văn bản, chúng tôi phát hiện trong Mộng Mai từ lục hiện còn có lẫn ít nhất 38 tác phẩm từ của Trung Quốc, thuộc các tác giả từ nổi tiếng từ thời Tống đến thời Thanh.</p>
<p>10. Thương Sơn từ tập của Miên Thẩm hiện trong nước không còn. May thay, do các sứ giả Việt Nam, nhân đi sứ sang nhà Thanh có mang theo từ tập này để “khoe” với người Trung Quốc, và nhờ vậy được họ ghi chép lại. Xem Trần Nghĩa: Thể loại từ của Trung Quốc du nhập vào Việt Nam và ảnh hưởng của nó đối với văn học bản địa. Nghiên cứu Hán Nôm, số 5- 2005, tr. 14.</p>
<p>11. Thiếu Tuấn: hiện chưa rõ hành trạng. Theo khảo cứu của chúng tôi trên cơ sở tác phẩm hiện còn của ông, ông người cuối Lê, đầu Nguyễn, quê tại xã Nhân Mục (làng Mọc ngày nay), từng đi sứ sang nhà Thanh.<br />
12. Nguyên văn là: “…我國從來為學,所志可知也. 舉業之外, 所志無他學; 科甲之外, 所志無他期. 子弟定志者此, 師父定子弟之志者亦如此. 悠悠積習, 人無異辞”.</p>
<p>13. Xem nội dung các bài: Thi từ hợp nhạc sớ, Đáp chiếu trát tử , Từ tuyển bạt, Dữ Trọng Cung luận điền từ thư trong quyển 1 và quyển 3 sách Vi Dã hợp tập.</p>
<p>14. Trong sách Quốc văn cụ thể của Bùi Kỉ có dành một số trang để viết về từ- khúc nhưng phần viết về đặc trưng thể loại không nhiều, chủ yếu là dẫn ra các ví dụ minh họa. Trong số 4 ví dụ về từ- khúc mà tác giả đưa ra chỉ có một bài thuộc thể từ, theo điệu Hành lộ nan (điệu này ít gặp). Điệu Hành lộ nan còn có các tên gọi khác là Mai hoa dẫn, Tiểu mai hoa, Tương tiến tửu, Bần dã lạc, trong sách trên không hiểu tác giả trích dẫn theo nguồn tư liệu nào, chỉ biết rằng tác phẩm trích dẫn không đúng thể thức của điệu từ được từ phổ ghi nhận. Về đặc trưng thể loại, trong một đoạn văn ngắn 6 dòng, thông tin do tác giả cung cấp ít nhất đã sai 3 điểm căn bản. Cho rằng: “Lối từ- khúc của Tầu có nhiều điệu, song đều là biến thể của cổ thi cả”, cách hiểu như vậy mơ hồ, dường như chỉ căn cứ vào hình thức của thể từ và thể khúc dẫn đến nhận định sai về nguồn gốc thể loại. Lại nói: “Tuy mỗi một khúc có một tên riêng, song có thể gọi tóm lại là Trúc chi từ, đặt câu dài ngắn, nhiều ít không có luật nhất định”. Từ và khúc đều có nhiều điệu khác nhau. Trúc chi từ chỉ là một trong mấy ngàn thể thức khác nhau của từ, hơn nữa cũng không phải thể thức đặc trưng cho lối câu “dài ngắn không đồng đều” (trường đoản cú), vì thế chưa từng có tác giả nào dùng tên điệu Trúc chi từ làm tên gọi chung cho thể loại từ, huống chi là cả thể từ và thể khúc! Từ và khúc có nhiều điệu, mỗi điệu có cách luật riêng. Về thể loại từ, các điệu đều có quy định rất chặt chẽ, chặt chẽ đến mức khắt khe (ứng với từng đoạn- phiến, câu, chữ), các câu dài ngắn không đồng đều không phải là dài ngắn một cách ngẫu hứng (kiểu thơ tự do), mà là sự dài ngắn ứng với những thanh điệu cụ thể, bắt buộc phải tuân thủ do sự quy định của nhạc khúc hay từ phổ, do vậy không có cái được gọi là “nhiều ít không có cách luật nhất định”. Sau khi dẫn các ví dụ về từ- khúc Trung Quốc, tác giả dẫn thêm một số ví dụ về “ca khúc của ta”, như khúc Nam ai, Hành vân, Kim tiền, Tứ đại cảnh&#8230; tiến hành so sánh một vài điểm về câu chữ, vị trí gieo vần&#8230; rồi đi đến kết luận: “Nói tóm lại, lối từ khúc của Tầu và của ta có thể cho là cùng chung một gốc. Tuy những bài dẫn để làm thí dụ như trên này, chưa gồm được đủ hết các lối, song nhân đấy mà suy rộng ra đại khái cũng tương tự như nhau hết cả”. Thể loại từ ra đời từ yến nhạc, các “ca khúc của ta” như trên đây ra đời từ đâu? Ta không dụng công tìm hiểu, chỉ biết chắc chắn không ra đời từ yến nhạc. Qua cách trình bày của tác giả có thể thấy các kiến thức về thể loại từ trong sách này được viết ra thông qua kinh nghiệm hay một cách “cảm” nào đó hơn là qua sự khảo cứu thực sự, vì thế sự mô tả về thể loại và một số kết luận tuy có mạnh dạn nhưng không tránh khỏi sai lầm.</p>
<fb:like href='http://home.thuhoavn.com/?p=4771' send='true' layout='standard' show_faces='true' width='450' height='65' action='like' colorscheme='light' font='lucida grande'></fb:like>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://home.thuhoavn.com/?feed=rss2&#038;p=4771</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nét đẹp bài thơ Tống Biệt của Tản Đà</title>
		<link>http://home.thuhoavn.com/?p=3195</link>
		<comments>http://home.thuhoavn.com/?p=3195#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 08 Jan 2010 09:16:08 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tao đàn Thư họa]]></category>
		<category><![CDATA[Phạm Ngọc Diệp]]></category>
		<category><![CDATA[Tản Đà]]></category>
		<category><![CDATA[Tống biệt]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://home.thuhoavn.com/?p=3195</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=3195" title="Nét đẹp bài thơ Tống Biệt của Tản Đà"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2010/01/thienthai-175x145.jpg" alt=""  width="175"  height="145"  class="colabs-image" /></a>Khi gắn bó thân thiết thấu hiểu tiếng lòng người tương tri, ta càng ngậm ngùi giây phút chia ly. Cảm giác cô đơn, lạnh lẽo, trống vắng thấm thía&#8230; thấm dần&#8230; thấn dần&#8230; từng giọt buồn giọt đắng thiêng liêng rỏ trong lòng&#8230; Thi ca xưa từng in dấu những cuộc chia ly cảm [...]]]></description>
	<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=3195" title="Nét đẹp bài thơ Tống Biệt của Tản Đà"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2010/01/thienthai-175x145.jpg" alt=""  width="175"  height="145"  class="colabs-image" /></a>			<content:encoded><![CDATA[<p>Khi gắn bó thân thiết thấu hiểu tiếng lòng người tương tri, ta càng ngậm ngùi giây phút chia ly. Cảm giác cô đơn, lạnh lẽo, trống vắng thấm thía&#8230; thấm dần&#8230; thấn dần&#8230; từng giọt buồn giọt đắng thiêng liêng rỏ trong lòng&#8230;</p>
<div id="attachment_3196" class="wp-caption aligncenter" style="width: 360px"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2010/01/thienthai.jpg"><img class="size-medium wp-image-3196" title="Cửa động đầu non đường lối cũ" src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2010/01/thienthai-350x291.jpg" alt="thienthai 350x291 Nét đẹp bài thơ Tống Biệt của Tản Đà" width="350" height="291" /></a><p class="wp-caption-text">Cửa động đầu non đường lối cũ</p></div>
<p>Thi ca xưa từng in dấu những cuộc chia ly cảm động không lời mà đượm buồn thương nhớ khi Lý Bạch tiễn bạn ở &#8220;Hoàng hạc lâu&#8221;, khi Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều, và nhân gian không thể quên cuộc chia ly không hẹn ngày tái ngộ đầy ngậm ngùi của tiên nữ tiễn hai chàng Lưu Nguyễn trong bài &#8220;Tống Biệt&#8221; của thi sĩ Tản Đà chốn Thiên Thai:</p>
<p><em>Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai<br />
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi<br />
Nửa năm tiên cảnh<br />
Một bước trần ai<br />
Ước cũ, duyên thừa, có thế thôi<br />
Đá mòn, rêu nhạt<br />
Nước chảy, huê trôi<br />
Cái hạc bay lên vút tận trời<br />
Trời đất từ đây xa cách mãi<br />
Cửa động<br />
Đầu non<br />
Đường lối cũ<br />
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi</em></p>
<p>Cuộc chia ly diễn ra từ cõi mộng. Thiên thai, đó là chốn hạnh phúc nhất, nơi đẹp nhất trong quan niệm của người Phương Đông. Hai chàng Lưu Thành, Nguyễn Triệu may mắn lạc vào cõi tiên, nhưng rồi tình yêu quê hương tha thiết đã khiến chàng từ giã chốn tiên cảnh về cõi trần ai. Cuộc &#8220;tống biệt&#8221; của các nàng tiên nữ, cuộc chia ly không hẹn ngày trở lại đó không có nước mắt rơi, chỉ có hoa đào rơi:</p>
<p><em>Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai</em></p>
<p>Lá đào dệt lối về. Hẳn lúc Lưu Nguyễn đến đây, hoa đào còn chúm chím, lá đào xanh thắm đón người nhập trốn Thiên Thai&#8230; thế mà giờ đây&#8230; Câu thơ mở ra gợi cảm giác buồn, rơi rụng, tàn phai. Nhớ khi xưa nàng Mỵ Châu rắc áo lông ngỗng dẫn đường chàng Trọng Thủy để tình yêu được đến với tình yêu thật cảm động, thì nay lá đào rơi rắc vô tình như níu kéo người&#8230; cũng cảm động biết bao. Chốn Thiên Thai, chốn hạnh phúc bất tử, và hoa đào là biểu tượng cho cái đẹp, cho mùa xuân tình yêu, vậy mà&#8230; lá đào vẫn rơị.&#8221;Lá đào rơi&#8221; tan tác tang thương như một nghịch lý. Cây đào bất tử nơi cõi tiên sao lại rơi rụng, héo tàn ? Cuộc chia ly thấm thía nỗi buồn tang tóc được báo hiệu qua chi tiết lạ lùng này. Cái bất tử cũng phải chết ! Ghê gớm thay ! cái đẹp bất tử rồi cũng sẽ tàn, mong manh. &#8221; Lá đào rơi rắc phủ đầy lối đi như những giọt hồng của nàng tiên nữ tha thiết mong chàng ở lại. Dường như lá đào rơi rắc như tan nát trong cõi lòng nàng tiên nữ&#8230; lặng thầm&#8230; dứt lòng nhìn người ra đi mà không níu lại được. Lá đào rơi làm nhẹ thêm, chậm thêm bươc người đi.</p>
<p>Không có tiên nương, không có người về, không nghe lời dặn dò tiễn đưa, chỉ thấy cảm xúc ngậm ngùi. &#8220;Ngậm ngùi&#8221; cả kẻ ở và người đi:</p>
<p><em>Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi</em></p>
<p>Vẫn là con suối ấy, những chú oanh ấy, thủa trước reo vui đón bước chân người đến, mà nay buồn lắng lòng khi người đi. Thiên nhiên tiên cảnh thấm tình. Nỗi buồn tự tiếng lòng tiên nữ như lan ra cảnh vật, thấm dượm lòng u hoài vào từng chú oanh nhỏ, dòng suối tiên. Cả chốn Thiên Thai hạnh phúc giờ đây chìm trong nỗi buồn. Từ &#8220;tiễn đưa &#8220;ngắt vụn ra thành &#8220;suối tiễn&#8221;, &#8220;oanh đưa&#8221; như tiếng lòng tiên nữ dùng dằng không nỡ xa người. &#8220;Người buồn cảnh có vui đâu bào giờ&#8221;. Hai nỗi buồn vọng vào nhau tạo cảm giác buồn mênh mang. Câu thơ đến đây trùng xuống trĩu nặng nỗi niềm: &#8220;những ngậm ngùi&#8221;. Hai chữ &#8220;ngậm ngùi&#8221; cuối câu lắng đọng lại như hai dấu lặng đơn trong âm nhạc vậy. Âm vang được tạo nên trong dòng cảm xúc. Đừng chỉ đọc thơ, hãy lắng lòng lại nghe thơ. chất nhạc trong thơ nói lên thần tình cảm xúc nàng tiên nữ. Đây là lúc dừng chân lưu luyến, cảnh níu lại. Tình níu lại. Cảnh soi thấu đến tận đáy tâm hồn người mộng đang đầy ắp yêu thương, u buồn. Giây phút chia ly bịn rịn thiêng liêng ấy&#8230; im lặng&#8230; không một lời nói.<br />
Trong khoảng không gian yên lặng, trong giây phút xa cách người thương, nàng tiên ngậm ngùi nhớ lại &#8221; nửa năm tiên cảnh &#8220;. Hạnh phúc nay còn đâu. Những giây phút thần tiên nay sắp tuột trôi. Hạnh phúc trôi nhanh lắm, nhất là hạnh phúc trên cõi thiên thần. Đành rằng một ngày chốn Thiên Thai bằng một năm chốn trần ai, nhưng sao ngắn ngủi như giấc mộng vậy. Và giấc mộng dần dần đi vào quá khứ:</p>
<p><em>Một bước trần ai</em></p>
<p>Hai tiếng &#8220;trần ai&#8221; vang lên thật xúc động. Nửa năm lại ngắn. Một bước đã thành xa. Bước chân một đi không trở lại này không chỉ là bước chuyển động trong không gian, mà còn là bước qua ranh giới giữa hai cõi, cõi tiên và cõi trần ai. Nửa năm hạnh phúc êm đềm nay một bước, một bước thôi đã mất hết tất cả. Câu thơ đang dang dài bảy chữ ở câu một, hai chợt đọng lại thành câu bốn chữ với thanh trắc đầu và cuối câu: &#8220;Nửa năm tiên cảnh&#8221; như tiếng khẽ kêu nhẹ thảng thốt. Trời ơi thời gian trôi nhanh quá. Hai câu thơ bốn chữ ngắt nhịp 2/2 như lời kể đứt hơi, thủ thỉ như tiếng nấc, tiếng nghẹn ngào khẽ thổn thức từng đợt nhỏ. Sau tiếng thổn thức, tâm hồn bâng khuâng mất mát lại lan ra:</p>
<p><em>Ước cũ, duyên thừa có thế thôi</em></p>
<p>Có thế thôi một kiếp duyên thừa&#8230; có thế thôi một ước mong. Câu thơ như tiếng thở dài. Ước nguyện nay đã cũ, tình duyên hòa hợp đã trôi vào quá khứ. Từ &#8220;duyên thừa&#8221; nghe sao bi ai, tội nghiệp. Hạnh phúc mộng ảo thoáng qua, chợt đến rồi chợt đi. Còn lại tiên nữ đối diện với tiếng lòng tiên nữ, hay chính thi nhân Tản Đà đối diện với chính mình? Giấc mộng êm đềm du dương nơi bồng lai tiên cảnh chốn Thiên Thai nay đã đi rồi. Sự thật phũ phàng&#8230; hạnh phúc cũ thừa. Chỉ có vậy thôi sao. Câu thơ thấm thía tâm trạng nối tiếc cho một cuộc sống tiên cảnh đã qua, và ẩn trong từng chữ, từng lời như thấp thoáng tâm hồn thi sĩ. Dòng cảm xúc trôi theo thời gian:</p>
<p><em>Đá mòn, rêu nhạt<br />
Nước chảy, huê trôi</em></p>
<p>Câu thơ như mộng như ảo, cũng như thực vậy. Thời gian trôi đi, cuốn theo những tinh hoa cuộc đời. &#8220;Trơ như đá&#8221; cũng phải mòn. Đá tượng trưng cho cái sắt đá, bất tử, vậy mà cũng phôi pha mìn đi theo năm tháng. Màu thời gian nhạt nhòa. Nhạt nhòa&#8230; nhạt nhòa màu rêu xanh thắm nay nhạt nhẽo vô hồn. Câu thơ gợi cảm giác mất mát không nắm bắt được. và dòng &#8220;nước chảy&#8221;, dòng thời gian chảy, dòng đời chảy cũng không níu giữ được cái đẹp bất tử. &#8220;Huê trôi&#8221; theo dòng nước, không phải là &#8220;hoa trôi&#8221;. &#8220;Huê&#8221; là hoa, nhưng nghe sao thê lương ảo não u buồn. Từ &#8220;huê &#8221; u hoài ngân nga xoáy vào lòng người, đọng trong ta tiếc thương cái đẹp. Cái đẹp mong manh yểu mệnh ấy bị dòng đời cuốn trôi đi. &#8220;Cánh hoa rụng chọn gì đất sạch &#8221; nghe thật thương tâm, nhưng cánh hoa tiên đáng nâng niu bị dòng đời cuốn trôi nghe sao bi thương lạ kì. Hình ảnh &#8220;đá mòn,rêu nhạt&#8221; &#8220;nước chảy, huê trôi&#8221; như đôi mắt tiên nữ nậmm ngùi nhớ lại hạnh phúc đẹp tươi thanh khiết ngày xưa với hai chàng quá đỗi mong manh.. Giờ đây còn gì nữa đâu&#8230; hoa trôi đi có bao giờ trở lại? &#8220;Một bước trần ai&#8221; &#8220;có thế thôi&#8221;. Hai câu thơ bốn chữ thu lại ngắt nhịp 2/2 rồi lại lan tỏa cảm xúc ra câu bảy chữ như những nhịp sóng lòng lúc nhỏ lúc dài cuộn lên trong lòng tiên nữ. Dường như lắng lòng lại nghe kĩ bài thơ&#8230; bài thơ như một bản nhạc du dương. Ta nghe được từng nhịp đập trái tim thi sĩ Tản Đà, từng đợt cảm xúc khẽ đâng tràọ.rồi lại đọng lại&#8230; du dương&#8230; tha thiết&#8230; bi ai&#8230; Thả hồn mình vào cõi mộng cõi tiên, tiếng hạc thức tỉnh người mộng thực tại phũ phàng:</p>
<p><em>Cái hạc bay lên vút tận trời</em></p>
<p>Tiên nữ đã cưỡi hạc bay về chốn tiên rồi. Cái hạc nghe sao thanh khiết thánh thiện lạ thường. Thi sĩ Tản Đà thật tài ba, tinh tế khi chọn từ &#8220;vút&#8221;. Các nàng tiên cưỡi hạc bay đi thoáng rất nhanh, &#8220;vút&#8221;, không để lại dấu vết gì. Giây phút chia tay đã dứt, tiên nữ bay về trời xa cách:</p>
<p><em>Trời đất từ đây xa cách mãi</em></p>
<p>Bầu trời trong thơ &#8220;vút tận trời&#8221; là bầu trời cao thăm thẳm chốn cao, còn bầu trời &#8220;trời đất từ đây xa cách mãi&#8221; không chỉ là trời đất mà là tình người. Tình của người trên trời cõi Thiên Thai và tình của người dưới đát cõi trần ai từ đây chia xa mãi mãi. Từ &#8220;mãi&#8221; đứng cuối câu kéo dài vô tận. Mãi mãi rồi ta không còn gặp nhau. Không bao giờ nữa quay trở lại uyên ương mộng vàng. Các nàng tiên nữ nhìn:</p>
<p><em>Cửa động<br />
Đầu non<br />
Đường lối cũ</em></p>
<p>Buồn tê tái. Giờ đây sống trên cõi bất tử hạnh phúc, mà các nàng đâu có hạnh phúc. Cảnh đấy&#8230; người đâu&#8230; Nhìn cửa động, đầu non gợi nhớ kỉ niệm xưa. Cảnh vẫn đấy nhưng đã thành cũ mất rồi.</p>
<p><em>Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi</em></p>
<p>Câu thơ nhẹ nhàng, lâng lâng&#8230; thanh khiết dâng chơi vơi trong tâm hồn người đọc &#8220;Nghìn năm&#8221; rồi&#8230; chốn Thiên Thai đã biến đi rồi. Còn lòng người thì thơ thẩn&#8230; kiếm tìm tiếng lòng tri âm tri kỉ, tìm người tương tri mãi bâng quơ. Chỉ còn ánh trăng, bóng nguyệt vĩnh hằng mà thôi. Câu thơ kết là tiếng lòng thi sĩ Tản Đà ngông, mộng và say. Ở cõi tiên, ông là khách tục. Ở chốn trần ai ông là khách tiên. Tâm hồn trái tim Tản Đà yêu đời vô cùng, nhưng cuộc đời không xứng đáng với tâm hồn thanh cao đó. Ông đã tìm đến cõi mộng. Mộng đeo đẳng ông từ &#8220;Giấc mộng con&#8221;, &#8220;Giấc mộng con I&#8221;, &#8220;Giấc mộng con II&#8221;, đến &#8220;Giấc mộng lớn&#8221;. Ông sống trong cõi mộng vươn lên nét dẹp tinh túy thuần khiết. Nhưng ông vẫn là con người đang sống trong cuộc đời này. Ông không thể trốn mãi được. Dù &#8220;tỉnh mộng lại muốn mộng mà chơi&#8221;, dù &#8220;nghĩ đời lắm nỗi không bằng mộng&#8221;, thì ông vẫn cứ là người đang sống. Ông không thể thoát ly cuộc đời. Sự trở về cõi trần ai của Lưu Nguyễn dường như là sự trở về với thực tại của con người mơ mộng Tản Đà. &#8221; Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời&#8221; nhưng rồi &#8220;giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi &#8221; Mộng của ông là mộng thanh cao của những con người thập kỉ 20. Cuộc đời ấy&#8230; dòng đời ấy. Tản Đà cứ đi tìm mãi, tha thiết khắc khoải một tiếng lòng tương tri:</p>
<p><em>Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi</em></p>
<p>Tản Đà, vị &#8220;khách trích tiên đánh vỡ chén ngọc nay đã hết hạn đi đày. Cái hạc đã bay lên vút tận trời&#8221;. Tâm hồn tản Đà đã về cõi tiên. Cầu mong cho ông tìm được tiếng tri âm, giữ mãi cái đẹp, đừng mong manh để khỏi ngẩn ngơ &#8220;thơ thẩn bóng trăng chơi&#8221;.</p>
<p style="text-align: right;"><strong>Phạm Ngọc Diệp</strong><br />
(Nguồn: suutap.com)</p>
<fb:like href='http://home.thuhoavn.com/?p=3195' send='true' layout='standard' show_faces='true' width='450' height='65' action='like' colorscheme='light' font='lucida grande'></fb:like>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://home.thuhoavn.com/?feed=rss2&#038;p=3195</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bài tựa của Lý Thái Bạch</title>
		<link>http://home.thuhoavn.com/?p=3190</link>
		<comments>http://home.thuhoavn.com/?p=3190#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 08 Jan 2010 04:46:37 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tao đàn Thư họa]]></category>
		<category><![CDATA[Thư họa Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Tác phẩm Hành thư]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Quang Đức]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://home.thuhoavn.com/?p=3190</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=3190" title="Bài tựa của Lý Thái Bạch"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2010/01/ap_20091106120730893-175x262.jpg" alt=""  width="175"  height="262"  class="colabs-image" /></a>Vòng trời đất bao hàm vạn vật; bóng quang âm làm khách muôn đời; kiếp phù sinh như giấc mộng trôi; một đời ấy được vui mấy nỗi. Huống hồ, ánh dương xuân mời gọi lung linh; bầu mặt đất trải phô tươi tắn. lại gặp gỡ nơi vườn thơm đào mận, cùng luận bàn [...]]]></description>
	<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=3190" title="Bài tựa của Lý Thái Bạch"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2010/01/ap_20091106120730893-175x262.jpg" alt=""  width="175"  height="262"  class="colabs-image" /></a>			<content:encoded><![CDATA[<p>Vòng trời đất bao hàm vạn vật; bóng quang âm làm khách muôn đời; kiếp phù sinh như giấc mộng trôi; một đời ấy được vui mấy nỗi.</p>
<p>Huống hồ, ánh dương xuân mời gọi lung linh; bầu mặt đất trải phô tươi tắn. lại gặp gỡ nơi vườn thơm đào mận, cùng luận bàn câu chuyện anh em.</p>
<p>Ai nấy tuấn tú thảy tựa Huệ Liên. Riêng ta ngâm ca, thẹn thua Khang Lạc. Cảnh u nhã còn chưa thưởng tận, chuyện luận bàn đã chuyển thanh cao.</p>
<p>Trải chiếu quỳnh giữa chốn muôn hoa; Rót chén tước say trong bóng nguyệt. Không có thơ hay ngâm vịnh; làm sao tỏ được tình này.</p>
<div id="attachment_3191" class="wp-caption aligncenter" style="width: 343px"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2010/01/ap_20091106120730893.jpg"><img class="size-full wp-image-3191" title="Bài tựa của Lý Thái Bạch, thư pháp Quang Đức, bản dịch Nôm của Nam Long" src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2010/01/ap_20091106120730893.jpg" alt="ap 20091106120730893 Bài tựa của Lý Thái Bạch" width="333" height="500" /></a><p class="wp-caption-text">Bài tựa của Lý Thái Bạch, thư pháp Quang Đức, bản dịch Nôm của Nam Long</p></div>
<p>夫，天地者，萬物之逆旅；光陰者，百代之過客。而浮生若夢，爲歡幾何？</p>
<p>古人秉燭夜遊，良有以也。況陽春召我以煙景，大塊假我以文章。</p>
<p>會桃李之芳園，序天倫之樂事。群季俊秀，皆爲惠連。吾人詠歌，獨慚康樂。</p>
<p>幽賞未已，高談轉清。開瓊筵以坐華，飛羽觴而醉月。不有佳作，何伸雅懷？</p>
<p style="text-align: right;">Bài tựa của <strong>Lý Thái Bạch</strong><br />
Thư pháp <a href="http://vn.myblog.yahoo.com/tranquangduc16585/" target="_blank"><strong>Quang Đức</strong></a><br />
Bản dịch Nôm của <strong>Nam Long</strong></p>
<fb:like href='http://home.thuhoavn.com/?p=3190' send='true' layout='standard' show_faces='true' width='450' height='65' action='like' colorscheme='light' font='lucida grande'></fb:like>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://home.thuhoavn.com/?feed=rss2&#038;p=3190</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thơ chữ Hán viết về Thăng Long &#8211; Hà Nội</title>
		<link>http://home.thuhoavn.com/?p=3072</link>
		<comments>http://home.thuhoavn.com/?p=3072#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 21 Dec 2009 12:13:51 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tao đàn Thư họa]]></category>
		<category><![CDATA[Thăng Long - Hà Nội]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ chữ Hán Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ Thăng Long]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://home.thuhoavn.com/?p=3072</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=3072" title="Thơ chữ Hán viết về Thăng Long &#8211; Hà Nội"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/12/1000-175x175.jpg" alt=""  width="175"  height="175"  class="colabs-image" /></a>Huyền Quang (1254-1334) Tên thật là Lý Đạo Tái, người làng Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lang Giang (nay là huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Giang). Năm 19 tuổi, ông đỗ khoa tam giáo đời Trần, rồi về đi tu ở chùa Quỳnh Lâm (Hải Dương). Năm 1330, sư Pháp Loa đem y bát [...]]]></description>
	<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=3072" title="Thơ chữ Hán viết về Thăng Long &#8211; Hà Nội"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/12/1000-175x175.jpg" alt=""  width="175"  height="175"  class="colabs-image" /></a>			<content:encoded><![CDATA[<p><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/12/1000.jpg"><img class="alignright size-thumbnail wp-image-3073" title="1000 năm Thăng Long - Hà Nội" src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/12/1000-150x150.jpg" alt="1000 150x150 Thơ chữ Hán viết về Thăng Long   Hà Nội" width="150" height="150" /></a><strong>Huyền Quang (1254-1334)</strong></p>
<p>Tên thật là Lý Đạo Tái, người làng Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lang Giang (nay là huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Giang). Năm 19 tuổi, ông đỗ khoa tam giáo đời Trần, rồi về đi tu ở chùa Quỳnh Lâm (Hải Dương). Năm 1330, sư Pháp Loa đem y bát của Điều ngự giác hoàng (tức vua Trần Nhân Tông) truyền cho, giao lại cho Huyền Quang trước khi mất. Huyền Quang lên tu ở núi Yên Tử và là tổ thứ ba của phái Trúc Lâm.</p>
<p><strong>Diên Hựu tự</strong>[1]</p>
<p>Thượng phương thu dạ nhất chung lan,<br />
Nguyệt sắc như ba phong thu đan<br />
Si vẫn đảo miên phương kính lãnh[2],<br />
tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn<br />
Vạn duyên bất nhiễm thành già tục<br />
Bán điểm vô ưu nhãn giới khoan.<br />
Tham thấu thị phi bình đẳng tướng,[3]<br />
Ma cung Phật quốc hảo sinh quan.</p>
<p><em><strong>Dịch: Chùa Diên Hựu</strong></em></p>
<p><em>Đêm thu một tiếng chuông tàn,<br />
ánh trăng như sóng lá bàng nhuộm son.<br />
Chim thú ngủ ngược gương vuông,<br />
Tháp vươn đôi búp tay thon lạnh ngời<br />
Thành che bụi tục nhiễm đời,<br />
Không lo, tầm mắt con người rộng ra.<br />
Coi thị phi ngang bậc mà<br />
Cung ma nước Phật khéo là tương quan.</em></p>
<p><strong>Phạm Sư Mạnh (khoảng 1300-1360)</strong></p>
<p>Người làng Hiệp Thạch, huyện Hiệp Sơn (nay thuộc tỉnh Hải Dương) học trò Chu An. Đậu Thái học sinh trong khoảng đời Trần Minh Tông. Năm 1323 bắt đầu vào triều. 1345 được cử làm sứ giả đi biện luận với nhà Nguyên về chuyện &#8220;Cột đồng&#8221;. 1346 giữ chức Chưởng bạ thư kiêm khu mật tham chính. 12 năm sau được thăng đến chức nhập nội hành khiển trí khu mật viện sự.</p>
<p><strong>Đề Báo Thiên tháp</strong>[4]</p>
<p>Trấn áp đông tây củng đế kỷ,<br />
Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy.<br />
Sơn hà bất động kình thiên trụ,<br />
Kim cổ nan ma lập địa chuỳ.<br />
Phong bãi chung linh thời ứng đáp,<br />
Tinh di đăng chúc dạ quang huy.<br />
Ngã lai dục thử đề danh bút,<br />
Quản lĩnh xuân giang tác nghiễn trì.</p>
<p><em><strong>Dịch: Đề tháp Báo Thiên</strong></em></p>
<p><em>Trấn đông tây, giữ đế kinh,<br />
Cao cao ngọn tháp vươn mình lên không.<br />
Cốt chống trời vững non sông,<br />
Chày dựng đất mãi mãi không tiêu mòn.<br />
Gió xao hoạ tiếng chuông hồn,<br />
Sao dời, đèn đuốc đêm luôn rực hồng<br />
Qua đây hứng bút đang nồng.<br />
Chiếm sông xuân hoá nên lòng nghiên thơ.</em></p>
<p><strong>Nguyễn Phi Khanh (1355-1428)</strong></p>
<p>Tên thật Nguyễn ứng Long, vốn người xã Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc tỉnh Hải Dương) sau dời về xã Ngọc ổi, (nay là xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội). Đậu thái học sinh (tiến sĩ) năm 1374 nhưng không được bổ dụng. Mãi sau khi nhà Hồ lên thay nhà Trần mới được cử làm Học sĩ Viện Hàn lâm rồi lần lượt thăng lên Thông chương đại phu, Tư nghiệp trường Quốc tử giám. Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Minh (1406-1407) cùng với vua tôi nhà Hồ, Nguyễn Phi Khanh bị giặc bắt đem về Kim Lăng. Hai con ông Nguyễn Trãi và Nguyễn Phi Hùng định đi theo phụng dưỡng cha, ông khuyên Nguyễn Trãi trở về phục thù và báo hiếu cho cha bằng con đường cứu nước.</p>
<p><strong>Thu thành vãn vọng</strong></p>
<p>Mộc lạc đô thành cửu nguyệt thiên,<br />
Tà dương trao địa tiệt vấn yên.<br />
Ly hồng viễn viễn nghinh phong trận,<br />
Khích nguyệt quyên quyên cách thụ huyền<br />
Ngâm hứng tứ thời thu dị cảm<br />
Nhân sinh vạn sự lão kham liên<br />
Binh qua huống phục điêu tàn hậu,<br />
Dao vọng tình mân nhất khái nhiên.</p>
<p><em><strong>Dịch: Trên thành ngắm cảnh chiều thu</strong></em></p>
<p><em>Kinh thành tháng chín lá rơi,<br />
Bóng tà chụp đất tơi bời khói mây<br />
Chim hồng đón gió trận bày,<br />
Trăng treo khe cửa xuyên cây cách hàng<br />
Thu dễ cảm, hứng ngâm tràn<br />
ở đời muôn việc, đáng than tuổi già.<br />
Huống điêu tàn sau can qua,<br />
Nhìn trời quang tạnh bao la, ngậm ngùi.</em></p>
<p><strong>Nguyễn Trãi (1380-1442)</strong></p>
<p>Người xã Ngọc ổi (nay là xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội) nhưng sinh ở Thăng Long trong dinh của ông ngoại là Tư đồ Trần Nguyên Đán. Năm 1400 đỗ Thái học sinh dưới triều Hồ được trao chức Ngự sử đài chánh chưởng. Nguyễn Trãi tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh xâm lược, được trao chức nhập nội hành khiển kiêm Lại bộ thượng thư, quản công việc ở Viện khu mật. Sau khi kháng chiến thành công, được ban họ vua và được ban tước Quan phục hầu. Năm 1442, do vụ án oan Lệ Chi Viên, bị tru di tam tộc. Năm 1464, Lê Thánh Tông Lên ngôi rửa oan cho ông, truy phong ông chức Đặc tiến kim tử vinh tộc đại phu, tước Tán trù bá.</p>
<p><strong>Tức sự</strong></p>
<p>Tiểu tiểu hiên song nuỵ nuỵ lư,<br />
Quan cư đốn giác loại u cư.<br />
Thương ba giang thượng nhàn thuỳ điếu,<br />
Lục thụ âm trung tĩnh khán thư.<br />
Vũ quá tình lam khuy hộ dũ,<br />
Phong lai tuyết lãng vũ đình trừ.<br />
Ngọ song tiêu sái vô trần luỵ,<br />
Nhất phiến nhàn tâm nhiếp thái hư[5].</p>
<p><em><strong>Dịch: Ghi việc</strong></em></p>
<p><em>Nhà lè tè, hiên tẻo teo,<br />
Dinh quan có khác chi lều ẩn đâu.<br />
Khi nhàn sông biếc buông câu,<br />
Tĩnh ngồi đọc sách xanh màu bóng râm<br />
Tạnh mưa cửa lọt hơi lam,<br />
Thềm sân bông tuyết múa mang gió vần.<br />
Êm song trưa, sạch luỹ trần,<br />
Một lòng thanh rúng động tầng thái hư.</em></p>
<p><strong>Ninh Tốn (1743 &#8211; ?)</strong></p>
<p>Người làng Côi Trì (nay là xã Yên Mỹ, huyện Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. Đậu tiến sĩ năm 1778, được bổ Thừa chính sứ. Năm 1788, làm Hữu thị lang bộ Công, kiếm bộ Lễ, tước Trường nguyên bá. Nhà Lê mất, ông ra làm quan với triều Tây Sơn, đến chức Thượng thư bộ Binh, tước hầu.</p>
<p><strong>Hoè Nhai</strong>[6]</p>
<p>Liễu mạch hoa cù nhân tận giai,<br />
Phong lưu toàn chiếm độc Hoè nhai.<br />
Kiều nhiên bách mị khoa xuân thái.<br />
Uyển chuyển tân thanh não khách hoài.<br />
Hoa đố chu nhan đăng hạ lạc,<br />
Oanh hoà trâm hưởng hạm tiền thôi.<br />
Tầm thường vị phóng thiên kim tiếu,<br />
Trực thị vương tôn đái tửu lai.</p>
<p><strong><em>Dịch: Hoè Nhai</em></strong></p>
<p><em>Đường hoa ngõ liễu người xinh,<br />
Phong lưu chiếm hết riêng dành Hoè Nhai<br />
Yêu kiều trăm vẻ khoe tươi,<br />
Tiếng ca réo rắt não người lắm phen<br />
Hoa ghen má, rụng dưới đèn,<br />
Oanh hoà phách gõ trước hiên rộn ràng.<br />
Mua cười ai bỏ nghìn vàng,<br />
Đợi vướng tôn tới rượu mang đầy vò.</em></p>
<p><strong>Đoàn Nguyễn Tuấn (1751 &#8211; ?)</strong></p>
<p>Người làng Hải An (nay là xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình). Ông có thi đỗ hương cống có lẽ vào đời Cảnh Hưng nhưng không làm quan cho triều Lê. Năm 1788, dường như ông cùng với một số nho sĩ vào Nam yết kiến Nguyễn Huệ và được vị thủ lĩnh quân Tây Sơn trao cho chức Trực học sĩ Viện Hàn lâm. Sau chiến thắng Đống Đa, năm 1790 ông được Nguyễn Huệ lúc bấy giờ là vua Quang Trung, cử đi sứ trong phái bộ của Phan Huy ích, khi về được phong Tả thị lang bộ Lại tước Hải phái hầu.</p>
<p><strong>Tây Hồ cán ti</strong></p>
<p>Dâm Đàm thuỷ sắc chính liên y,<br />
Kiều thương quan hoàn cán trạc thì.<br />
Thái triệt long oa[7] phô luyện chử,<br />
Cẩm hồi thước phố dục hà ky[8]<br />
Tàm tang sinh lý thân thường khiết,<br />
Tích lịch kỳ phương[9] thủ bất qui.<br />
Hà xứ sương chân hàn đảo nguyệt,<br />
Sầu nhân thanh đáp cán hồ ti.</p>
<p><em><strong>Dịch: Chuội tơ ở Hồ Tây</strong></em></p>
<p><em>Hồ Tây sắc nước gợn lăn tăn,<br />
Cầu tựa xem phường chuội sợi săn.<br />
Màu thấu hang Rồng phô bến lụa,<br />
Gấm vây bãi Thước giặt doành Ngân.<br />
Tằm tang lẽ sống, thân thường sạch.<br />
Sấm sét phương hay, tay chẳng sần.<br />
Đâu chốn chày sương đang nện nguyệt<br />
Chuội tơ đáp lại tiếng bâng khuâng.</em></p>
<p><strong>Nguyễn Du (1755-1820)</strong></p>
<p>Quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh nhưng sinh và sống thời niên thiếu ở Thăng Long, trong nhà thân phụ là Nguyễn Nghiễm, Tham tụng Xuân quận công triều Lê. Năm 1784 đậu tam trường. Năm 1786, Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Du chạy về quê vợ ở xã Quỳnh Côi, huyện Hải An, tỉnh Thái Bình. Năm 1796 trở lại quê nhà. Năm 1802 ra làm quan với nhà Nguyễn, trải qua các chức tri huyện Phù Dung, tri phủ Thường Tín, Tham tri làm việc ở Nội các, Cai bạ ở Quảng Bình. Năm 1813 được thăng hàm Cần chính điện học sĩ, làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Năm 1814 trở về, từ ấy làm quan ở kinh cho đến lúc mất. Ngoài thơ chữ Hán ông còn có tác phẩm Nôm nổi tiếng như Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh&#8230;</p>
<p><strong>Thăng Long (kỳ nhất)</strong></p>
<p>Tản lĩnh Lô giang tuế tuế đồng,<br />
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long.<br />
Thiên niên cự thất thành quan đạo,<br />
Nhất phiến tân thành một cố cung.<br />
Tương thức mỹ nhân khan bão tử,<br />
Đồng du hiệp thiếu tận thành ông.<br />
Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ,<br />
Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung.</p>
<p><em><strong>Dịch: Thăng Long</strong> (bài 1)</em></p>
<p><em>Sông Lô núi Tản y nguyên,<br />
Bạc đầu còn được ngắm nhìn Thăng Long<br />
Nhà lớn cũ; đường cái chồng,<br />
Một toà thành mới, dấu cung xưa mờ.<br />
Người đẹp quen, ẵm con thơ<br />
Bạn chơi hồi trẻ bây giờ lão ông.<br />
nao lòng, đêm thức chong chong<br />
Véo von tiếng tiếng địch lồng ánh trăng</em></p>
<p><strong>Trần Bá Lãm (1757-1815)</strong></p>
<p>Người làng Vân Canh, huyện Từ Liêm (nay thuộc ngoại thành Hà Nội) đậu nhị giáp tiến sĩ chế khoa năm 1787, làm quan đến Đô cấp sứ trung, đốc đồng Hải Dương. Nhà Lê mất, đến đời Gia Long (1802-1820) ông làm đốc học Bắc Ninh. ông có viết tập thơ La Thành cổ tích vịnh về những di tích cổ của Thăng Long &#8211; Hà Nội, ở đây trích hai bài:</p>
<p><strong>Ngọc hồ tự</strong></p>
<p>Địa bất Bồng lai ẩn trích tiên[10],<br />
Y hi hoàn bội bãng hoa biên.<br />
Đại hưng môn ngoại tiên tung diểu,<br />
Nan mịch Đào nguyên nhận túc duyên[11].</p>
<p><em><strong>Dịch: Chùa Ngọc hồ</strong></em></p>
<p><em>Đất chẳng Bồng lai náu trích tiên,<br />
Bên hoa văng vẳng xuyến vòng rền.<br />
Đại hưng ngoài cửa tiên mờ dấu<br />
Khó kiếm nguồn Đào nhận túc duyên.</em></p>
<p><strong>Nhị Trưng từ</strong></p>
<p>Gia cừu quốc hận cảm thâu sinh,<br />
Lực vẫn sơn hà tỉ muội binh.<br />
Lãng bạc thảo hoa trường đới lệ,<br />
Thiên thu kỳ tiết bại do vinh.</p>
<p><em><strong>Dịch: Đền Hai Bà Trưng</strong></em></p>
<p><em>Hận nước thù nhà, trộm sống sao?<br />
Chị em dấy nghĩa cứu đồng bào.<br />
Cỏ hoa lãng bạc tuôn nguồn lệ<br />
Bại đấy mà vinh, tiết mãi lưu.</em></p>
<p><strong>Nguyễn Văn Siêu (1795-1872)</strong></p>
<p>Người làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, sau di cư ra ở phường Dũng Thọ, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội (nay là phố Nguyễn Siêu). Đậu phó bảng năm 1838, làm quan đến án sát Hưng Yên. Năm 1849, được cử làm phó sứ sang Trung Quốc, sau bị giáng xuống Hàn lâm thị độc, ông cáo quan về ở phường Dũng Thọ, mở trường Phương đình dạy học, học trò theo học rất đông. Ông là người đứng ra tu bổ chùa Ngọc Sơn, dựng đình Trấn ba, cầu Thê Húc, tháp Bút, đài Nghiên.</p>
<p><strong>Thưởng Ngọc Sơn tự chung lâu</strong></p>
<p>Lão ông giải cấu cộng huề châu,<br />
Loạn đả lâu chung hoán thượng lâu<br />
Nhân ngữ trà yên thiên bán lạc,<br />
Thuỷ quang vân ảnh toạ trung phù.<br />
Tà tà phi điểu qua cao thụ,<br />
Cổn cổn tình văn điệp tế lưu<br />
Bất vị di nhàn yên chí thử,<br />
Giang san mạc thác cổ kim sầu.</p>
<p><em><strong>Dịch: Lên lầu chuông chùa Ngọc Sơn</strong></em></p>
<p><em>Gặp ông già rủ ghé xuồng,<br />
Giục lên lầu, nện chuông buông đổ hồi.<br />
Khói trà tiếng nói lưng trời,<br />
Bóng mây ánh nước chỗ ngồi nổi quanh.<br />
Tà tà chim lướt qua cành,<br />
Sóng lăn tăn gợn vòm xanh làu làu;<br />
Không cầu vui ai đến đâu,<br />
Non sông xin chớ gợi sầu cổ kim.</em></p>
<p><strong>Cao Bá Quát (1809-1855)</strong></p>
<p>Người xã Phú Thị, huyện Gia Lâm (nay thuộc ngoại thành Hà Nội). Đậu cử nhân năm 1831, năm 1840 được bổ làm hành tẩu bộ Lễ. Năm 1841, được cử làm sơ khảo trường thi Thừ Thiên, do lòng mến tài, ông đã cùng với Phan nha dùng bút thấm muội đèn chữa cho 24 quyển khá. Việc lộ ra, ông bị giam vào ngục. Cuối năm 1842, ông bị ghép vào đoàn tàu đi các nước Malaixia, Xinggapo, Inđônêxia làm công việc mua hàng cho vua để chuộc tội. Năm 1847 ông được triệu về Huế, bổ vào Viện Hàn lâm làm biên tập các vần thơ ca. Năm 1852 ông buộc phải rời kinh đi làm giáo thụ phủ Quốc Oai. Năm 1854 ông cầm đầu cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương. Tháng giêng năm 1855, Cao Bá Quát chết trận.</p>
<p><strong>Thứ vận Thận Tư phóng quan Nhị hà, đồng Di Xuân, Hoà phủ</strong></p>
<p>Tài thu tế vũ hựu vi phong,<br />
Độc ỷ thương mang mộ khí trung<br />
Tế bắc sơn liên bình dã hợp,<br />
Trực nam vân nhập đại hoang không.<br />
Thành y Long đỗ kiêm thiên tráng,<br />
Lãng quyển đào hoa sánh địa hồng.<br />
Hao hao quầnh kim cổ ý,<br />
Thử thân hà sự tác thi ông.</p>
<p><em><strong>Dịch: Thứ vận thơ Thận Tư, phóng tầm mắt nhìn sông Nhị, cùng Di Xuân, Hoà phủ</strong></em></p>
<p><em>Mưa bụi dứt, gió nhẹ lan,<br />
Một mình tựa bóng chiều man mác nhìn.<br />
Mạn Bắc đồng hợp núi liền,<br />
Phía nam mây tản nhập miền hoang vu.<br />
Thế hùng Long đỗ trời cho,<br />
Hoạ đào sóng cuốn đất phô đỏ ngời.<br />
ý kim cổ núi sông khơi,<br />
Thân này sao hoá ra người làm thơ.</em></p>
<p><strong>Miên Thẩm (1819-1870)</strong></p>
<p>Con thứ mười của vua Minh Mệnh, được phong tước Tùng Thiện Vương. Là một ông hoàng lớn lên trong cung điện nhưng ông rất yêu nông thôn, tự ông làm ruộng, khai mương và vận động các ông hoàng bà chúa khác làm theo. Thơ ông chứa chan lòng yêu nước, luôn gắn chặt với thiên nhiên và con người lao động. Khi Pháp xâm lược nước ta, ông làm thơ ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu và bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.</p>
<p><strong>Du Trấn Vũ quán</strong>[12]</p>
<p>Cao lâu độc thướng tứ đê hồi<br />
Tịch mịch hàn chung mộ sắc thôi.<br />
Cổ thụ hữu chi thê dạ nguyệt,<br />
Tàn bi vô tự toả thương đài.<br />
Bách niên đồng tượng nguy nhiên tại,<br />
Ngũ đại kim môn bán dĩ đồi.<br />
Chỉ thặng Tây hồ vân thái hảo,<br />
Tuỳ phong do phất hoạ liêm lai.</p>
<p><em><strong>Dịch: Chơi quán Trấn Vũ</strong></em></p>
<p><em>Lầu cao bịn rịn đứng cô liêu<br />
Chuông lạnh đưa chiều giữa quạnh hiu<br />
Cây cổ có cành trăng đậu tối,<br />
Bia tàn không chữ dấu phong rêu<br />
Tượng đồng bao thuở còn sừng sững,<br />
Cửa tía năm đời nửa lở xiêu.<br />
Chỉ sót hồ Tây mây ráng đẹp,<br />
Phất phơ theo gió động mành treo.</em></p>
<p><strong>Nguyễn Tư Giản (1823-1890)</strong></p>
<p>Người làng Du Lâm (nay thuộc xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội). Đậu tiến sĩ năm 1844, làm quan đến chức Thượng thư bộ Lại, Thị lang bộ Hộ. Năm 1881, cáo quan hưu trí. Sau chuyến sang sứ Trung Quốc, ông cùng các nhân sĩ Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Đức Hậu, Bùi Viện dâng sớ lên Tự Đức để trình một chương trình canh tân đất nước, nhưng không được chấp nhận.</p>
<p><strong>Hiếm hồ kỷ du</strong></p>
<p>Lan nhiêu vi yết tịch dương tà,<br />
Thị ái hồ quang thị ái hoa.<br />
á thuỷ sổ chi hồn nhập hoạ,<br />
ỷ sơn cô các tự phù gia.<br />
Trúc âm hưởng ngạn dao tình nguyệt,<br />
Đăng ảnh thiên môn đái lạc hà.<br />
Tửu bãi hồi xa kham trướng vọng,<br />
Thanh phong vô lực tải tỳ bà.</p>
<p><em><strong>Dịch: Ghi cuộc chơi hồ Gươm</strong></em></p>
<p><em>Cành lan mềm níu ánh tà,<br />
Bởi yêu hồ sáng yêu hoa nặng tình.<br />
Nhánh nước toả tự trong tranh,<br />
Gác dựa non gợi chênh vênh nhà sàn.<br />
Trúc lay bóng nguyệt bờ vang,<br />
ánh đèn nghìn cửa cõng làn ráng sa<br />
Tiệc tàn xe chuyển trông ra,<br />
Gió không chở nổi tỳ bà ngân rung.</em></p>
<p><strong>Nguyễn Khuyến (1835-1909)</strong></p>
<p>Người thôn Vi Hạ, xã Yên Đổ (nay thuộc xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam). Năm 1864 đậu Giải nguyên, năm 1871 đậu Hội nguyên và Đình nguyên, lần lượt trải qua các chức Nội các thừa chỉ, Sử quán toản tu, Đốc học rồi án sát Thanh hoá, Biện lý bộ Hộ, Bố chính Quảng Ngãi, năm 1879 bị đàn hại phải về kinh, lại làm Toản tu ở sử quán. Năm 1883 được thăng Quan lộc tự Khanh. Khi quân Pháp chiếm được cả nước ta, ông đang dưỡng bệnh ở quê, được cử ra làm quyền Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên nhưng ông cương quyết từ chối, sống cảnh bần hàn ở quê Yên Đổ suốt hơn hai mươi năm trời.<br />
Giáp Thân Trung thu ngụ Hà Nội hữu cảm, ký đồng niên cử nhân Ngô[13]</p>
<p>Thập niên thử địa thử trung thu,<br />
Thành quách y y cảnh dĩ thù.<br />
Bạch chúc hồng đăng mê viễn cận,<br />
Tố quan thanh cái tạp thuỳ ngô.<br />
Tô giang hữu hận đào thanh cấp.<br />
Nùng lĩnh vô tình dạ nguyệt cô.<br />
Dạ cấm cận văn nghiêm túc thậm,<br />
Thi ông tằng ức cựu du phù?</p>
<p><strong><em>Dịch: Cảm nghĩ nhân dịp tiết trung thu năm Giáp Thân (1884) ở Hà Nội, viết gửi bạn đồng niên là ông cử nhân họ Ngô</em></strong></p>
<p><em>Mười năm trước cũng trung thu,<br />
Thành xưa nguyên đó, cảnh giờ khác xa.<br />
Đèn hồng nến bạch lập loà,<br />
Dù xanh mũ trắng tây ta lộn ngầu.<br />
Sông Tô sóng hận dồn mau,<br />
Núi nùng trơ mảnh trăng thâu vô tình.<br />
Cấm đi đêm lệnh nghiêm minh,<br />
Nhà thơ còn nhớ cuộc mình chơi xưa?</em></p>
<p><strong>Dương Khuê (1839-1902)</strong></p>
<p>Người làng Vân Đình (nay là xã Dương Đình, huyện ứng Hoà, thành phố Hà Nội). Đậu Tiến sĩ năm 1868, sơ bổ Tri phủ Bình Giang (Hải Dương) rồi thăng Bố chánh. Trước tình thế giặc Pháp xâm chiếm đất nước ta, ông dâng sớ bàn phải quyết chiến, không nên nhượng đất cho giặc, vua Tự Đức phê &#8220;Bất thức thời vụ&#8221;, bị giáng chức làm Chánh sứ Sơn phòng, điều hành việc khai hoang, sau đó được thăng Đốc học Nam Định rồi Bố chánh. Đời Thành Thái, ông làm Tổng đốc Nam Định &#8211; Ninh Bình, về hưu được tặng thêm hàm Thượng thư bộ Binh. Cuối đời ông đi vào con đường thoát ly hưởng lạc.</p>
<p><strong>Hà thành Trung thu tiết</strong></p>
<p>Phong tĩnh hà minh mộ vũ hưu,<br />
Giang thành triệt dạ tễ quang phù<br />
Khí đặng thu hạ xa tranh đạo,<br />
Hoàn kiếm hồ biên nguyệt quải lâu<br />
Thế sự như kỳ vô định cục,<br />
Suy niên tá tửu mạn tiêu sầu.<br />
Nhi đồng tham trục ngư long hý,<br />
Bất kế sơn hà dĩ bán thu.</p>
<p><em><strong>Dịch: Trung thu ở Hà Nội</strong></em></p>
<p><em>Gió lặng mưa tan ráng ửng màu,<br />
Thành sông tạnh sáng suốt đêm thâu.<br />
Dưới cây đèn điện xe tranh lối,<br />
Bên cạnh hồ Gươm nguyệt rủ lầu,<br />
Sự thế như cờ chưa dứt cuộc<br />
Tuổi già mượn chén tạm khuây sầu.<br />
Trẻ con mê mải trò rồng cá,<br />
Chẳng kể sơn hà nửa nhuốm thu.</em></p>
<p><strong>Nguyễn Thuật (1842 &#8211; ?)</strong></p>
<p>Người làng Hà Lam (nay thuộc xã Bình Nguyên, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam). Đậu Phó bảng năm 1868, làm quan đến chức Thái tử Thiếu bảo, Hiệp biện đại học sĩ, lĩnh chức Thượng thư bộ Binh và giảng sách tại toà kinh diên. Từng làm Chánh sứ sang Trung Quốc.</p>
<p><strong>Đăng Hà Nội thành kỳ đài</strong></p>
<p>Bách trượng bàn không thanh đắc tà,<br />
Cao lăng bích lạc đãng vân hà.<br />
Lâu đài tần tác đương song tận,<br />
Trần cấu vô lao cử phiến già.<br />
Nhị thuỷ phong phàm phiên điệp sĩ,<br />
Kiếm hồ tự tháp dũng liên ba.<br />
Đăng lâm hà sự sinh sầu tứ,<br />
Thương hải hung hoài mi hữu nha (nhai)</p>
<p><strong><em>Dịch: Lên Cột cờ thành Hà Nội</em></strong></p>
<p><em>Vút trăm trượng, bậc đá lên,<br />
quét ráng mây sừng sững trên nền trời.<br />
Thấy từng cửa sổ lâu đài,<br />
Quạt che bụi bậm trần ai khỏi cầm.<br />
Buồm sông Nhị: cánh bướm dăng<br />
Tháp chùa hồ Kiếm sóng lừng bè sen.<br />
Lên chơi đừng để sầu nhen,<br />
Dẫu lòng biển rộng bên ven có bờ.</em></p>
<p><strong>Chu Thấp Hi (cuối thế kỷ Xĩ đầu thế kỷ XX)</strong></p>
<p>Người Đào Xá, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Đậu cử nhân, từng đoạt giải cuộc thi Vịnh Kiều của tao đàn Hưng Yên năm 1905 về thơ chữ Hán, cùng với Chu Mạnh Trinh đoạt giải về thơ Nôm.</p>
<p><strong>Vịnh Hà Nội Văn Miếu thập cảnh thi (tuyển nhị thủ)</strong></p>
<p><strong>Bi đình thạch triện</strong></p>
<p>Long bàn phượng vũ mặc ngân lưu,<br />
Phiếu diểu vân yên tứ diện phù.<br />
Minh thế văn chương, Yên Hứa bút[14]<br />
Cô đình phiến thạch túc thiên thu.</p>
<p><em><strong>Dịch: Thơ vịnh mười cảnh Văn miếu Hà Nội (chọn hai bài)</strong></em></p>
<p><strong><em>Chữ khắc đá ở nhà bia</em></strong></p>
<p>Nét tươi phượng múa rồng bay<br />
Nổi nênh bốn mặt khói mây bời bời.<br />
Bút Yên Hứa, văn giúp đời,<br />
Ngàn thu tấm đá đình côi đủ truyền.</p>
<p><strong>Thạch khánh hoà minh</strong></p>
<p>Khuê lâu trần tĩnh nguyệt quang thâm,<br />
Phũ thạch thanh cao vạn lại trầm.<br />
Ti trúc thiên thu dư vận tại,<br />
Khanh khanh từ hoạ bích gian âm.</p>
<p><em><strong>Dịch: Khánh đá hoà âm</strong></em></p>
<p><em>Gác Khuê bụi sạch trăng tà,<br />
Trong cao tiếng đá, gần xa lặng trầm<br />
Trúc tơ dường vẳng dư âm,<br />
cách tường lanh lảnh thơ ngâm hoạ cùng.</em></p>
<p><strong>Chú thích:</strong></p>
<p><em>[1] Chùa Diên Hựu xây dựng năm 1049 dựa theo một giấc chiêm bao của vua Lý Thái Tông. chùa dựng trên một cột đá giữa hồ nước rộng tượng trưng cho một đoá hoa sen, nên thường gọi là chùa Một Cột.<br />
[2] Tác giả ví mái chùa với tấm gương lạnh, phản chiếu bóng tượng chim thú (trong thần thoại ấn Độ, trang trí ở chùa) ngủ ngược đầu.<br />
[3] Theo quan điểm triết học Phật giáo, phải coi hình tướng mọi sự vật một cách bình đẳng (ngang hàng) với nhau, để khám phá bản thể của nó, không cố chấp giáo điều, thành kiến, vì vạn vật có mối tương quan.<br />
[4] Tháp Báo Thiên vốn có tên là tháp Đại Thắng Tư Thiên, ở chùa Sùng Khánh Báo Thiên 9ở khu vực nhà thờ lớn ngày nay), xây năm 1057 trên một gò đất cao bên cạnh hồ Lục Thuỷ (hồ Hoàn Kiếm) gồm 12 tầng, cao vài chục trượng (khoảng 80m), đỉnh tháp đúc bằng đồng. Tháp bị sập năm 1547.<br />
[5] Thái hư: tầng cao nhất trên chín tầng trời.<br />
[6] Hoè Nhai có nghĩa là Đường Hoè, tức là con đường mà hai bên vệ trồng rặt một loài cây hoè. Con đường này dẫn từ bến Đông Bộ đầu (nay là chỗ dốc Hàng Than) vào phía Bắc Hoàng thành. Thời Lê nơi này mang tên phường Hoè Nhai, có nhiều ca nữ hát với nhịp phách cung đàn, là một chốn phong lưu của kinh thành Thăng Long, thời đó. Đời Nguyễn đổi tên là phường Giai Cảnh (tương ứng với địa bàn các phố Hoè Nhai, Hàng Than, Nguyễn Trường Tộ&#8230; hiện nay).<br />
[7] Long oa: hang Rồng. Người xưa cho rằng dưới vùng nước sâu rộng là hang ở của rồng, rồi từ đó nâng lên là &#8220;Long cung&#8221; (Cung điện của Thuỷ tề Long vương).<br />
[8] Hà ky: dịch thoát là doành Ngân. Vì trong câu thơ còn có từ Thước phố (bến Thước) cho nên có lẽ tác giả muốn dùng điển &#8220;chim Ô Thước bắc cầu qua sông Ngân hà&#8221; để hàm ý Chức nữ dệt gấm.<br />
[9] Tích lịch kỳ phương: Sấm sét phép lạ: ý nói tiếng đập lụa vang lên như sấm sét.<br />
[10] Trích tiênị đầy xuống trần.: tiên b<br />
[11] Túc duyênối duyên từ kiếp trước.: m<br />
[12] Quán Trấn Vũ ở vên Hồ Tây, thường gọi là đền Quan Thánh, thờ thần Huyền Thiên Trấn Vũ thần trấn trị phương Bắc.<br />
[13] Cử nhân Ngô: tức là ông Ngô Văn Dạng, người làng Kim Cổ, huyện Thọ Hương (Hà Nội), đỗ cử nhân đồng khoa hương với Nguyễn Khuyến.<br />
[14] Yên Hứa bút: những người thư pháp giỏi ở Trung Quốc thời xưa.</em></p>
<p style="text-align: right;"><strong>Hoài Anh</strong><br />
Nguồn: hoinhavanvietnam.vn</p>
<fb:like href='http://home.thuhoavn.com/?p=3072' send='true' layout='standard' show_faces='true' width='450' height='65' action='like' colorscheme='light' font='lucida grande'></fb:like>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://home.thuhoavn.com/?feed=rss2&#038;p=3072</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hữu Sở Cảm &#8211; Thơ Phạm Đình Hổ &#8211; Lệ thư</title>
		<link>http://home.thuhoavn.com/?p=2744</link>
		<comments>http://home.thuhoavn.com/?p=2744#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 31 Jul 2009 07:15:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Lê Tiến Đạt</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tao đàn Thư họa]]></category>
		<category><![CDATA[Thư họa Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Lê Tiến Đạt]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Văn Bách]]></category>
		<category><![CDATA[Phạm Đình Hổ]]></category>
		<category><![CDATA[Tác phẩm Lệ thư]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://home.thuhoavietnam.com/?p=2744</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=2744" title="Hữu Sở Cảm &#8211; Thơ Phạm Đình Hổ &#8211; Lệ thư"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/07/HuuSoCam1-175x125.jpg" alt=""  width="175"  height="125"  class="colabs-image" /></a>Hữu Sở Cảm Trường An tiểu nhi nữ; Tiêm thủ quán nha hoàn. Thâm khuê bất tri khổ; Do tảo lạc hoa khan. Trường An tiểu nhi nữ; Mi đại nguyệt song loan. Vị ái mai hoa khiết; Lâm phong bất giác hàn. Trường An tiểu nhi nữ; Hoa tiền độc ỷ lan. Chỉ phạ [...]]]></description>
	<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=2744" title="Hữu Sở Cảm &#8211; Thơ Phạm Đình Hổ &#8211; Lệ thư"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/07/HuuSoCam1-175x125.jpg" alt=""  width="175"  height="125"  class="colabs-image" /></a>			<content:encoded><![CDATA[<div id="attachment_2747" class="wp-caption alignright" style="width: 165px"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/HuuSoCam.jpg"><img class="size-medium wp-image-2747" title="Phạm Đình Hổ - Hữu Sở Cảm thi nhất thiên. Kỷ sửu quý hạ Minh Thành Lê Tiến Đạt thư" src="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/HuuSoCam-155x500.jpg" alt="HuuSoCam 155x500 Hữu Sở Cảm   Thơ Phạm Đình Hổ   Lệ thư" width="155" height="500" /></a><p class="wp-caption-text">Phạm Đình Hổ - Hữu Sở Cảm thi nhất thiên. Kỷ sửu quý hạ Minh Thành Lê Tiến Đạt thư</p></div>
<p><strong>Hữu Sở Cảm</strong></p>
<p>Trường An tiểu nhi nữ;<br />
Tiêm thủ quán nha hoàn.<br />
Thâm khuê bất tri khổ;<br />
Do tảo lạc hoa khan.</p>
<p>Trường An tiểu nhi nữ;<br />
Mi đại nguyệt song loan.<br />
Vị ái mai hoa khiết;<br />
Lâm phong bất giác hàn.</p>
<p>Trường An tiểu nhi nữ;<br />
Hoa tiền độc ỷ lan.<br />
Chỉ phạ đàn lang thính;<br />
Hoành cầm tiếu bất đàn.</p>
<p>(<em>Phạm Đình Hổ &#8211; Hữu Sở Cảm thi nhất thiên. Kỷ sửu quý hạ Minh Thành Lê Tiến Đạt thư</em>)</p>
<p><strong>Nguyên văn chữ Hán:</strong></p>
<p>長安小兒女，纖手丱丫鬟。深閨不知苦，猶掃落花看。</p>
<p>長安小兒女，眉黛月雙彎。為愛梅花潔，臨風不覺寒。</p>
<p>長安小兒女，花前獨倚欄。只怕檀郎聽，橫琴笑不彈。</p>
<p><strong>Dịch thơ:</strong></p>
<p>Trường An cô gái nhỏ;<br />
Tay thon bện tóc dài.<br />
Phòng khuê nào biết khổ;<br />
Hoa rụng quét xem chơi.</p>
<p>Trường An cô gái nhỏ;<br />
Trăng non &#8211; đôi mày cong.<br />
Trước gió đứng quên lạnh;<br />
Vì yêu mai trắng bông.</p>
<p>Trường An cô gái nhỏ;<br />
Bên hoa tựa lan can.<br />
Ôm đàn cười chẳng gảy,<br />
Những ngại lọt tai chàng.</p>
<p>(<em>Theo bản dịch của Lỗ Công &#8211; Nguyễn Văn Bách có sửa vài chữ</em>)</p>
<p style="text-align: right;"><strong>Lê Tiến Đạt</strong></p>
<p style="text-align: left;">
<p style="text-align: right;">
<fb:like href='http://home.thuhoavn.com/?p=2744' send='true' layout='standard' show_faces='true' width='450' height='65' action='like' colorscheme='light' font='lucida grande'></fb:like>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://home.thuhoavn.com/?feed=rss2&#038;p=2744</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>&#8220;Ỷ lâu &#8211; Đảo luyện tử&#8221; &#8211; Một bài từ Việt</title>
		<link>http://home.thuhoavn.com/?p=2709</link>
		<comments>http://home.thuhoavn.com/?p=2709#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 27 Jul 2009 06:19:17 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Phạm Văn Ánh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tao đàn Thư họa]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Hoàng Trung]]></category>
		<category><![CDATA[Phạm Văn Ánh]]></category>
		<category><![CDATA[Tác phẩm bút sắt]]></category>
		<category><![CDATA[Từ Việt]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://home.thuhoavietnam.com/?p=2709</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=2709" title="&#8220;Ỷ lâu &#8211; Đảo luyện tử&#8221; &#8211; Một bài từ Việt"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/07/ylau-daoluyetu-tp-nav1-175x107.jpg" alt=""  width="175"  height="107"  class="colabs-image" /></a>Ở Trung Quốc, từ được coi là thể loại văn học có thành tựu đặc biệt. Đếm sơ từ Tống có độ 2 vạn bài, thời Thanh độ 2 chục vạn. Từ đạt đỉnh cao vào Lưỡng Tống, được nhà Từ học Vương Quốc Duy coi là “Văn học tương ứng với một cái thời [...]]]></description>
	<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=2709" title="&#8220;Ỷ lâu &#8211; Đảo luyện tử&#8221; &#8211; Một bài từ Việt"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/07/ylau-daoluyetu-tp-nav1-175x107.jpg" alt=""  width="175"  height="107"  class="colabs-image" /></a>			<content:encoded><![CDATA[<p>Ở Trung Quốc, từ được coi là thể loại văn học có thành tựu đặc biệt. Đếm sơ từ Tống có độ 2 vạn bài, thời Thanh độ 2 chục vạn. Từ đạt đỉnh cao vào Lưỡng Tống, được nhà Từ học Vương Quốc Duy coi là “Văn học tương ứng với một cái thời đại của nó” (nhất đại chi văn học). Từ Tầu nhiều, từ Ta thì ít. Nay xin cúng dường một bài từ của Việt Nam ta &#8211; tác giả Nguyễn Hoàng Trung<em>(1)</em> để chư vị đọc chơi, vị nào có hứng xin dịch nguyên điệu để quý vị độc giả cùng thưởng thức thì công đức thực là vô lượng vậy.</p>
<div id="attachment_2715" class="wp-caption aligncenter" style="width: 360px"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/ylau-daoluyetu-tp-nav.jpg"><img class="size-medium wp-image-2715" title="Ỷ lâu – Đảo luyện tử – Nguyễn Hoàng Trung. Bút sắt Xuân Như viết" src="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/ylau-daoluyetu-tp-nav-350x102.jpg" alt="ylau daoluyetu tp nav 350x102 Ỷ lâu   Đảo luyện tử   Một bài từ Việt" width="350" height="102" /></a><p class="wp-caption-text">Ỷ lâu – Đảo luyện tử – Nguyễn Hoàng Trung. Bút sắt Xuân Như viết</p></div>
<p><span style="font-size: medium;"><strong>倚 樓 &#8211; 搗 練 子</strong><br />
秋 色 淡,<br />
月 光 寒,<br />
茅 店 雞 寒 唱 夜 闌.<br />
最 是 離 人 愁 重 處,<br />
含 情 無 語 倚 欄 杆.</span></p>
<p><strong>Phiên âm: Ỷ lâu &#8211; Đảo luyện tử</strong></p>
<p>Thu sắc đạm,<br />
Nguyệt quang hàn,<br />
Mao điếm kê hàn xướng dạ lan.<br />
Tối thị li nhân sầu trọng xứ,<br />
Hàm tình vô ngữ ỷ lan can.</p>
<p><strong>Dịch nghĩa: Dựa lầu &#8211; Điệu Đảo luyện tử</strong></p>
<p>Sắc thu mờ nhạt,<br />
Ánh trăng lạnh lẽo,<br />
Nơi điếm cỏ, gà lạnh gáy báo đêm tàn.<br />
Ấy đích thị là nơi người li biệt thảm sầu chồng chất,<br />
Ôm theo mối tình, lẳng lặng dựa vào lan can.</p>
<p><strong>Dịch theo nguyên điệu:</strong></p>
<p>Thu ảm đạm,<br />
Ánh trăng hàn,<br />
Điếm lạnh gà đâu chợt gáy ran.<br />
Ấy chốn li nhân sầu chất ngất,<br />
Nặng tình, không nói, dựa lan can.<br />
<em>(Phạm Văn Ánh tạm dịch)</em></p>
<p><strong>Chú thích:</strong></p>
<p><em>(1) Nguyễn Hoàng Trung hiện chưa rõ hành trạng. Tác phẩm của ông hiện còn Nguyễn Hoàng Trung thi tạp tập và Hiệu tần tập. Trong Nguyễn Hoàng Trung thi tạp tập có phần “thi dư” chép 22 bài từ, phân làm 3 loại: Đơn điệu tiểu lệnh, song điệu tiểu lệnh và trường điệu, theo tác giả, các tác phẩm này sáng tác bằng cách “mô phỏng theo các thể từ thời Đường &#8211; Tống”. Mở đầu sách có bài dẫn mang tên Thi sồ tiểu dẫn do đích thân tác giả Nhân Đình Nguyễn Hoàng Trung ghi vào năm Giáp tí. Xét nội dung các bài trong sách thì ông là con cháu một nhà dòng dõi trâm anh thế phiệt ở Hà Nội. (Sách có dùng nhiều danh từ thông dụng thời Nguyễn, kiểu chức vị “Cử nhân”, hay địa danh Hà Nội. Bài Du Thiên Ngưỡng sơn kí người ở Hà Nội &#8211; Tên gọi Hà Nội ở đây cũng cho phép khẳng định tác giả sống vào thời Nguyễn). Kết hợp khảo sát Hiệu tần tập, ở bài Tị loạn (tránh loạn) sách này có hai câu như sau: “Thiên mệnh khán lai dã bất thường; Kí kinh hỏa hậu hựu Tây Dương” (Thiên mệnh xem ra thật bất thường / Đã qua hỏa hoạn lại Tây Dương). Cái họa Tây Dương nói đến ở đây hẳn là chỉ sự xâm lược của người Pháp, như vậy sớm nhất tác giả phải viết những dòng này vào khoảng những năm từ 1856 về sau. Đến đây có thể khu biệt thời gian năm Giáp tí trong lời dẫn đầu sách có hai khả năng là năm 1864 và 1924. Trong sách lại có một bài chúc mừng các vị thi đỗ Cử nhân, Tú tài, mà năm 1924 thì khoa cử đã bị bãi bỏ rồi, vậy Nguyễn Hoàng Trung viết lời tựa cho cuốn Nguyễn Hoàng Trung thi tạp tập vào năm 1864.</em></p>
<p style="text-align: right;"><strong>Trường Phong &#8211; Phạm Văn Ánh</strong></p>
<p style="text-align: left;">
<fb:like href='http://home.thuhoavn.com/?p=2709' send='true' layout='standard' show_faces='true' width='450' height='65' action='like' colorscheme='light' font='lucida grande'></fb:like>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://home.thuhoavn.com/?feed=rss2&#038;p=2709</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thơ xướng họa giữa vua Quang Trung và Càn Long</title>
		<link>http://home.thuhoavn.com/?p=2688</link>
		<comments>http://home.thuhoavn.com/?p=2688#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 25 Jul 2009 08:33:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tao đàn Thư họa]]></category>
		<category><![CDATA[Thư họa Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Ngọc Thanh]]></category>
		<category><![CDATA[Tác phẩm bút sắt]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ xướng họa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://home.thuhoavietnam.com/?p=2688</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=2688" title="Thơ xướng họa giữa vua Quang Trung và Càn Long"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/07/3750708825_f7e1c8cab3_o-175x99.jpg" alt=""  width="175"  height="99"  class="colabs-image" /></a>Đây là bài thơ Quang Trung (thực ra là văn thần của ngài) viết họa lại bài thơ xướng của Càn Long. Bài thơ này viết trong nước, khi Quang Trung phụng thụ bài thơ mang về thì mới làm. Phiên âm: Thượng tái cung chiêm ngọc lộ tuần Khuynh quỳ nhất niệm hiệu tôn [...]]]></description>
	<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=2688" title="Thơ xướng họa giữa vua Quang Trung và Càn Long"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/07/3750708825_f7e1c8cab3_o-175x99.jpg" alt=""  width="175"  height="99"  class="colabs-image" /></a>			<content:encoded><![CDATA[<p>Đây là bài thơ Quang Trung (thực ra là văn thần của ngài) viết họa lại bài thơ xướng của Càn Long. Bài thơ này viết trong nước, khi Quang Trung phụng thụ bài thơ mang về thì mới làm.</p>
<div id="attachment_2689" class="wp-caption aligncenter" style="width: 360px"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/3748207031_6cc885e0bf_o.jpg"><img class="size-medium wp-image-2689" title="Bài thơ Quang Trung (thực ra là văn thần của ngài) viết họa lại bài thơ xướng của Càn Long. (Ngọc Thanh viết)" src="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/3748207031_6cc885e0bf_o-350x191.jpg" alt="3748207031 6cc885e0bf o 350x191 Thơ xướng họa giữa vua Quang Trung và Càn Long" width="350" height="191" /></a><p class="wp-caption-text">Bài thơ Quang Trung (thực ra là văn thần của ngài) viết họa lại bài thơ xướng của Càn Long. (Ngọc Thanh viết)</p></div>
<p><strong>Phiên âm:</strong></p>
<p>Thượng tái cung chiêm ngọc lộ tuần<br />
Khuynh quỳ nhất niệm hiệu tôn thân<br />
Ba trừng quế hải tuân hầu độ<br />
Nhật noãn minh giai kiến thánh nhân<br />
Vạn lí thê hàng quy hữu cực<br />
Cửu trung vũ lộ mộc đồng nhân<br />
Càn hành cảnh ngưỡng vô cương thọ<br />
Phổ suất tư đào Đế thế xuân.</p>
<p><em>Quang Trung văn thần phụng họa Đại Thanh hoàng đế Càn Long xướng thi<br />
Học sinh Nguyễn Ngọc Thanh cẩn thư</em></p>
<p>Nội dung: <em>Đúng kiểu thơ xướng họa ca tụng truyền thống, rằng ta là nước phên dậu chư hầu phải tuân theo chế độ của chư hầu, rồi ca tụng cơ đồ Đại Thanh sẽ mãi mãi đựoc sống trong thời Đế Nghiêu Đế Thuấn.</em></p>
<p><strong>Dịch nghĩa:</strong></p>
<p><em>Lên ải cung kính trông vết xe tuần thú của thiên tử<br />
Một niềm ngưỡng vọng cung kính như việc tôn kính cha mẹ mình vậy<br />
Sóng nước biển Nam tuân theo chế độ của chư hầu<br />
Mặt trời ấm áp dưới thềm minh thấy Thánh Nhân<br />
Muôn dặm thang thuyền đều quy về cực<br />
Cửu trùng mưa móc đều được tắm gội cùng điều nhân<br />
Sự vận hành của trời là thế, xin ngước vọng ngài vạn thọ vô cương<br />
Khắp trời đất này đều được hun đúc dưới mùa xuân của đời Đế Nghiêu Đế Thuấn</em></p>
<p><span style="color: #000080;"><strong>Sau đây là bài của vua Càn Long</strong></span></p>
<div id="attachment_2690" class="wp-caption aligncenter" style="width: 360px"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/3750708825_f7e1c8cab3_o.jpg"><img class="size-medium wp-image-2690" title="Bài thơ xướng của Càn Long (Ngọc Thanh viết)" src="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/3750708825_f7e1c8cab3_o-350x198.jpg" alt="3750708825 f7e1c8cab3 o 350x198 Thơ xướng họa giữa vua Quang Trung và Càn Long" width="350" height="198" /></a><p class="wp-caption-text">Bài thơ xướng của Càn Long (Ngọc Thanh viết)</p></div>
<p><strong>Phiên âm:</strong></p>
<p>Doanh phiên nhập cận trị thời tuần<br />
Sơ kiến hồn như cựu thức thân<br />
Y cổ vị văn lai Tượng quốc<br />
Thắng triều vãng sự bỉ kim nhân<br />
Cửu kinh nhu viễn chi trùng dịch<br />
Gia hội ư kim miễn thể nhân<br />
Võ yển văn tu thuận thiên đạo<br />
Đại Thanh tộ vĩnh vạn thiên xuân</p>
<p><em>Đại Thanh hoàng đế Càn Long ngự chế ban tứ An Nam Quang Trung Hoàng Đế<br />
Học sinh Nguyễn Ngọc Thanh cẩn thư</em></p>
<p><strong>Dịch nghĩa:</strong></p>
<p><em>Bề tôi phên dậu vào chầu thiên tử đúng lúc thiên tử đi tuần thú<br />
Mới gặp đây mà ngỡ như người thân quen đã biết rồi<br />
Theo như xưa thì chưa nghe việc người Tượng Quốc đến<br />
Chuyện bắt cống nạp người bằng vàng của triều trước thật đáng khinh bỉ<br />
Theo như Cửu Kinh trong sách “Trung dung” phải “nhu viễn” (đối đãi mềm mỏng với chư hầu phương xa) vì chịu qua nhiều tầng phiên dịch<br />
Nay hội tốt lành, ta cố gắng thể điều nhân<br />
Võ im văn sửa thuận theo thiên đạo<br />
Vận nước Đại Thanh mãi muôn ngàn xuân</em></p>
<p><strong>Chú thích:</strong></p>
<p style="text-align: left;"><em>- Nhập cận: </em>Chư hầu vào trầu thiên tử không theo định kỳ. Theo định kì gọi là triều.<br />
<em>- Ngọc lộ: </em>Xe thiên tử đi tuần thú<br />
<em>- Quỳ: </em>thứ rau biểu thị sự tôn kính. Khuynh quỳ: Nghiêng mình tôn kính<br />
<em>- Quế Hải:</em> tức Nam Hải<br />
<em>- Minh giai: </em>thềm minh, tương truyền thời Đế Nghiêu có mọc cây minh trước thềm. Do đó tượng trưng cho điềm báo hiệu xuất hiện thánh nhân.<br />
<em>- Hữu cực: </em>Trong “Kinh thư &#8211; Hồng phạm” có trù “hoàng cực” trong chín trù (cửu trù): “Hoàng kiến kì hữu cực”. Cực ở đây là chuẩn tắc.<br />
<em>- Cảnh ngưỡng: </em>Xuất phát từ Kinh Thi: “Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hành hành chỉ”<br />
<em>- Phổ suất: </em>Xuất phát từ Kinh Thi: “Phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ; suất thổ chi tân, mạc phi vương thần”</p>
<p style="text-align: right;"><em>Thư pháp, phiên âm, dịch nghĩa và chú giải bởi <strong>Nguyễn Ngọc Thanh</strong></em></p>
<p style="text-align: left;"><em><br />
</em></p>
<fb:like href='http://home.thuhoavn.com/?p=2688' send='true' layout='standard' show_faces='true' width='450' height='65' action='like' colorscheme='light' font='lucida grande'></fb:like>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://home.thuhoavn.com/?feed=rss2&#038;p=2688</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hán Cao Tổ Đại phong ca &#8211; Hành thư bút sắt</title>
		<link>http://home.thuhoavn.com/?p=2677</link>
		<comments>http://home.thuhoavn.com/?p=2677#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 23 Jul 2009 05:56:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Xuân Như</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tao đàn Thư họa]]></category>
		<category><![CDATA[Tác phẩm bút sắt]]></category>
		<category><![CDATA[Tác phẩm Hành thư]]></category>
		<category><![CDATA[Xuân Như]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://home.thuhoavietnam.com/?p=2677</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=2677" title="Hán Cao Tổ Đại phong ca &#8211; Hành thư bút sắt"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/07/dafengge-175x185.jpg" alt=""  width="175"  height="185"  class="colabs-image" /></a>Theo “Cao Tổ bản kỷ” – Sử Ký (Tư Mã Thiên), Hán Sở tranh hùng khi chấm dứt, Lưu Bang đánh bại Hạng Vũ, lên ngôi thiên tử (202 TrCN – tức Hán Cao Tổ), rồi về thăm cố hương ở đất Bái, nhân khi bày tiệc rượu say sưa với bà con, làng xóm, [...]]]></description>
	<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=2677" title="Hán Cao Tổ Đại phong ca &#8211; Hành thư bút sắt"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/07/dafengge-175x185.jpg" alt=""  width="175"  height="185"  class="colabs-image" /></a>			<content:encoded><![CDATA[<div id="attachment_2678" class="wp-caption aligncenter" style="width: 360px"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/dafengge.jpg"><img class="size-medium wp-image-2678" title="Hán Cao Tổ Đại phong ca - hành thư bút sắt (Xuân Như viết)" src="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/dafengge-350x371.jpg" alt="dafengge 350x371 Hán Cao Tổ Đại phong ca   Hành thư bút sắt" width="350" height="371" /></a><p class="wp-caption-text">Hán Cao Tổ Đại phong ca - hành thư bút sắt (Xuân Như viết)</p></div>
<p>Theo “Cao Tổ bản kỷ” – Sử Ký (Tư Mã Thiên), Hán Sở tranh hùng khi chấm dứt, Lưu Bang đánh bại Hạng Vũ, lên ngôi thiên tử (202 TrCN – tức Hán Cao Tổ), rồi về thăm cố hương ở đất Bái, nhân khi bày tiệc rượu say sưa với bà con, làng xóm, họ Lưu ứng khẩu mà ca rằng:</p>
<p><span style="font-size: medium;">大風起兮云飛揚，</span><br />
<span style="font-size: medium;"> 威加海內兮歸故鄉。</span><br />
<span style="font-size: medium;"> 安得猛士兮守四方？</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">大風歌（劉邦）</span></p>
<p>Phiên âm:</p>
<p>Đại phong khởi hề, vân phi dương,<br />
Uy gia tứ hải hề, quy cố hương.<br />
An đắc mãnh sĩ hề, thủ tứ phương.</p>
<p>Tôi tạm dịch:</p>
<p><em>Gió lớn nổi chừ, kìa may bay ngang,<br />
Uy vang bốn bể chừ, nay về cố hương.<br />
Mong có được mãnh tướng chừ, giữ bốn phương</em></p>
<p>Lời ca thể hiện rõ khí phách của kẻ anh hùng đoạt thiên hạ, nhưng bài này cảm giác đầy sự tự phụ, cũng gặp thời nhờ người mà lên cao, chỉ lo mong cố thủ được địa vị của riêng mình. Cũng là hay xong không thích bằng lời ca của Hạng Vũ khi biệt Ngu Cơ (hôm nào đó sẽ viết lại chơi sau)</p>
<p>Thích câu cuối, mượn ý mà mong sao các “mãnh tướng” Thư pháp hội tụ về đây mà chơi cùng nhau cho thỏa, thế thôi.</p>
<p style="text-align: right;"><em>Hà Nội, Jul 23, 2009</em><br />
Xuân Như</p>
<p style="text-align: left;">
<fb:like href='http://home.thuhoavn.com/?p=2677' send='true' layout='standard' show_faces='true' width='450' height='65' action='like' colorscheme='light' font='lucida grande'></fb:like>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://home.thuhoavn.com/?feed=rss2&#038;p=2677</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phạm Trọng Yêm &#8220;Nhạc Dương lâu ký&#8221; trích đoạn</title>
		<link>http://home.thuhoavn.com/?p=2658</link>
		<comments>http://home.thuhoavn.com/?p=2658#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 10 Jul 2009 03:43:32 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tao đàn Thư họa]]></category>
		<category><![CDATA[Thư họa Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Trung Hoàng Long]]></category>
		<category><![CDATA[Nhạc Dương lâu ký]]></category>
		<category><![CDATA[Phạm Trọng Yêm]]></category>
		<category><![CDATA[Tác phẩm bút sắt]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://home.thuhoavietnam.com/?p=2658</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=2658" title="Phạm Trọng Yêm &#8220;Nhạc Dương lâu ký&#8221; trích đoạn"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/07/nhacduong900na-175x141.jpg" alt=""  width="175"  height="141"  class="colabs-image" /></a>Ta hồ! Dư thường cầu cổ nhân nhân chi tâm, hoặc dị nhị giả chi vi, hà tai? Bất dĩ vật hỉ, bất dĩ kỷ bi, cư miếu đường chi cao, tắc ưu kỳ dân; xứ giang hồ chi viễn, tắc ưu kỳ quân. Thị tiến diệc ưu, thoái diệc ưu; nhiên tắc hà thì [...]]]></description>
	<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=2658" title="Phạm Trọng Yêm &#8220;Nhạc Dương lâu ký&#8221; trích đoạn"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/07/nhacduong900na-175x141.jpg" alt=""  width="175"  height="141"  class="colabs-image" /></a>			<content:encoded><![CDATA[<div id="attachment_2659" class="wp-caption aligncenter" style="width: 360px"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/nhacduong900na.jpg"><img class="size-medium wp-image-2659" title="Phạm Trọng Yêm &quot;Nhạc Dương lâu ký&quot; trích" src="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/nhacduong900na-350x282.jpg" alt="nhacduong900na 350x282 Phạm Trọng Yêm Nhạc Dương lâu ký trích đoạn" width="350" height="282" /></a><p class="wp-caption-text">Phạm Trọng Yêm &quot;Nhạc Dương lâu ký&quot; trích</p></div>
<p>Ta hồ! Dư thường cầu cổ nhân nhân chi tâm, hoặc dị nhị giả chi vi, hà tai? Bất dĩ vật hỉ, bất dĩ kỷ bi, cư miếu đường chi cao, tắc ưu kỳ dân; xứ giang hồ chi viễn, tắc ưu kỳ quân. Thị tiến diệc ưu, thoái diệc ưu; nhiên tắc hà thì nhi lạc gia? Kỳ tất viết: &#8220;tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc dư&#8221;! Y! Vi tư nhân, ngô thuỳ dữ quy! Thì lục niên cửu nguyệt thập ngũ nhật.</p>
<p><strong>Chữ Hán: </strong></p>
<p>嗟乎！予嘗求古仁人之心，或異二者之為，何哉？不以物喜，不以己悲，居廟堂之高，則憂其民；處江湖之遠，則憂其君。是進亦憂，退亦憂；然則何時而樂耶？其必曰：「先天下之憂而憂，後天下之樂而樂歟！」噫！微斯人，吾誰與歸！時六年九月十五日。</p>
<p><strong>Dịch nghĩa: </strong></p>
<p>Than ôi! Ta từng hỏi những cao nhân đời xưa, nếu không phải hai điều trên, thì do đâu? Không vui vì cảnh, không buồn vì cảnh, ở miếu đường trên cao, tất lo cho dân; ở sông nước ngoài xa, tất lo cho vua. Dù tiến cũng lo, lui cũng lo; vậy thì vui được khi nào đây? Tất nói là: &#8220;Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ vậy&#8221;! Ôi! Con người nhỏ bé sao, ta thuở nào về! Đã sáu năm chín tháng mười lăm ngày.</p>
<p style="text-align: right;">Thư pháp bút sắt: <strong>Tiểu Hạng</strong><br />
Nguồn văn bản: <a href="http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=14822" target="_blank">Thi Viện</a></p>
<p style="text-align: left;">
<fb:like href='http://home.thuhoavn.com/?p=2658' send='true' layout='standard' show_faces='true' width='450' height='65' action='like' colorscheme='light' font='lucida grande'></fb:like>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://home.thuhoavn.com/?feed=rss2&#038;p=2658</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Dịch kinh Khiêm quái &#8211; Lệ thư điều bức</title>
		<link>http://home.thuhoavn.com/?p=2604</link>
		<comments>http://home.thuhoavn.com/?p=2604#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 06 Jul 2009 10:09:15 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Lê Tiến Đạt</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tao đàn Thư họa]]></category>
		<category><![CDATA[Thư họa Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Lê Tiến Đạt]]></category>
		<category><![CDATA[Tác phẩm Lệ thư]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://home.thuhoavietnam.com/?p=2604</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=2604" title="Dịch kinh Khiêm quái &#8211; Lệ thư điều bức"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/07/IMG_15061-175x134.jpg" alt=""  width="175"  height="134"  class="colabs-image" /></a>KHIÊM Dịch kinh Khiêm quái Thoán viết: Khiêm hanh. Thiên đạo hạ tế nhi quang minh. Địa đạo ti nhi thượng hành. Thiên đạo khuy doanh nhi ích khiêm. Địa đạo biến doanh nhi lưu khiêm. Quỷ thần hại doanh nhi phúc khiêm. Nhân đạo ố doanh nhi hiếu khiêm. Khiêm tôn nhi quang, ti [...]]]></description>
	<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=2604" title="Dịch kinh Khiêm quái &#8211; Lệ thư điều bức"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/07/IMG_15061-175x134.jpg" alt=""  width="175"  height="134"  class="colabs-image" /></a>			<content:encoded><![CDATA[<div id="attachment_2608" class="wp-caption aligncenter" style="width: 411px"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/IMG_15061.jpg"><img class="size-full wp-image-2608" title="Lời Thoán Quẻ Khiêm trong kinh Dịch - MT (cục bộ)" src="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/IMG_15061.jpg" alt="IMG 15061 Dịch kinh Khiêm quái   Lệ thư điều bức" width="401" height="309" /></a><p class="wp-caption-text">Lời Thoán Quẻ Khiêm trong kinh Dịch - MT (cục bộ)</p></div>
<div id="attachment_2609" class="wp-caption aligncenter" style="width: 274px"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/IMG_1506.jpg"><img class="size-large wp-image-2609" title="Lời Thoán Quẻ Khiêm trong kinh Dịch - MT" src="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/IMG_1506-264x1024.jpg" alt="IMG 1506 264x1024 Dịch kinh Khiêm quái   Lệ thư điều bức" width="264" height="1024" /></a><p class="wp-caption-text">Lời Thoán Quẻ Khiêm trong kinh Dịch - MT</p></div>
<p>KHIÊM</p>
<p>Dịch kinh Khiêm quái Thoán viết: Khiêm hanh. Thiên đạo hạ tế nhi quang minh. Địa đạo ti nhi thượng hành. Thiên đạo khuy doanh nhi ích khiêm. Địa đạo biến doanh nhi lưu khiêm. Quỷ thần hại doanh nhi phúc khiêm. Nhân đạo ố doanh nhi hiếu khiêm. Khiêm tôn nhi quang, ti nhi bất khả du, quân tử chi chung hĩ.</p>
<p><em>Lời Thoán Quẻ Khiêm trong kinh Dịch nói: Khiêm hanh thông. Đạo trời giao tiếp xuống mà sáng láng. Đạo đất thấp mà đi lên. Đạo trời làm bớt chỗ đầy mà thêm và chỗ khiêm. Đạo đất biến đổi chỗ đầy mà chảy vào chỗ khiêm (trũng). Quỷ thần làm hại chỗ đầy mà tạo phúc cho chỗ khiêm. đạo người ghét chỗ đầy mà thích chỗ khiêm. Khiêm, ở ngôi tôn thì sáng sủa, ở chỗ thấp mà không thể vượt qua, đó là sau chót của đấng quân tử.</em></p>
<p style="text-align: right;"><strong>Minh Thành &#8211; Lê Tiến Đạt</strong></p>
<p style="text-align: left;"><strong> </strong></p>
<fb:like href='http://home.thuhoavn.com/?p=2604' send='true' layout='standard' show_faces='true' width='450' height='65' action='like' colorscheme='light' font='lucida grande'></fb:like>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://home.thuhoavn.com/?feed=rss2&#038;p=2604</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ba bài thơ thiền Việt Nam viết bút sắt</title>
		<link>http://home.thuhoavn.com/?p=2581</link>
		<comments>http://home.thuhoavn.com/?p=2581#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 03 Jul 2009 10:27:30 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Xuân Như</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tao đàn Thư họa]]></category>
		<category><![CDATA[Thư họa Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Tác phẩm bút sắt]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ thiền]]></category>
		<category><![CDATA[Xuân Như]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://home.thuhoavietnam.com/?p=2581</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=2581" title="Ba bài thơ thiền Việt Nam viết bút sắt"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/07/30-04-2009-10-01-05-PM_00011-175x102.jpg" alt=""  width="175"  height="102"  class="colabs-image" /></a>Xuân cảnh Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì, Họa đường thiềm ảnh, mộ vân phi. Khách lai bất vấn nhân gian sự, Cộng ỷ lan can khán thuý vi. (Trần Nhân Tông) &#8230;&#8230; Hạ cảnh Nhật trường Tân quán tiểu song minh, Phong nạp hà hương viễn ích thanh. Vô hạn ngâm tình thùy [...]]]></description>
	<a href="http://home.thuhoavn.com/?p=2581" title="Ba bài thơ thiền Việt Nam viết bút sắt"><img src="http://home.thuhoavn.com/wp-content/uploads/2009/07/30-04-2009-10-01-05-PM_00011-175x102.jpg" alt=""  width="175"  height="102"  class="colabs-image" /></a>			<content:encoded><![CDATA[<div id="attachment_2582" class="wp-caption aligncenter" style="width: 360px"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/30-04-2009-10-01-05-PM_00011.jpg"><img class="size-medium wp-image-2582" title="Thơ thiền viết bút sắt 3 bài" src="http://home.thuhoavietnam.com/wp-content/uploads/2009/07/30-04-2009-10-01-05-PM_00011-350x205.jpg" alt="30 04 2009 10 01 05 PM 00011 350x205 Ba bài thơ thiền Việt Nam viết bút sắt" width="350" height="205" /></a><p class="wp-caption-text">Thơ thiền viết bút sắt 3 bài</p></div>
<p><strong>Xuân cảnh</strong></p>
<p>Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì,<br />
Họa đường thiềm ảnh, mộ vân phi.<br />
Khách lai bất vấn nhân gian sự,<br />
Cộng ỷ lan can khán thuý vi.<br />
<em>(Trần Nhân Tông)</em></p>
<p>&#8230;&#8230;</p>
<p><strong>Hạ cảnh</strong></p>
<p>Nhật trường Tân quán tiểu song minh,<br />
Phong nạp hà hương viễn ích thanh.<br />
Vô hạn ngâm tình thùy hội đắc,<br />
Tịch dương lâu thượng vãn thiền thanh.<br />
<em>(Nguyễn Bỉnh Khiêm)</em></p>
<p>&#8230;&#8230;</p>
<p><strong>Xuân Vãn</strong></p>
<p>Niên thiếu hà tằng liễu sắc không<br />
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung<br />
Như kim khám phá Đông hoàng diện<br />
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.<br />
<em>(Trần Nhân Tông)</em></p>
<p style="text-align: right;"><strong>Xuân Như</strong></p>
<p><em> </em></p>
<fb:like href='http://home.thuhoavn.com/?p=2581' send='true' layout='standard' show_faces='true' width='450' height='65' action='like' colorscheme='light' font='lucida grande'></fb:like>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://home.thuhoavn.com/?feed=rss2&#038;p=2581</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
